Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    Anh_Van_Giao_Tiep_Cho_Nguoi_Hoan_Toan_Mat_Goc___Ruby_Thao_Tran.flv NoiNayCoAnhSonTungMTP4772041.mp3 Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf

    Thành viên trực tuyến

    3 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Nữ lưu Đất Việt >

    Nguyễn Thị Giang (1909–1930)

    Nguyễn Thị Giang (1909–1930)


    Nguyễn Thị Giang (1909–1930)

    Nguyễn Thị Giang (1909–1930), tức Cô Giang, là một nhà cách mạng người Việt chống Pháp, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, và là hiền thê của Nguyễn Thái Học. Nguyễn Thị Giang sinh năm 1909 tại thị xã Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang, em ruột Nguyễn Thị Bắc, tức Cô Bắc.

    Sau khi học xong lớp nhất, Cô Giang cùng chị là Cô Bắc được nhà yêu nước Nguyễn Khắc Nhu dìu dắt và đưa vào tổ chức Việt Nam Dân Quốc - một tổ chức với tinh thần chống Pháp quyết liệt. Trong thời điểm này, tại Hà Nội, Việt Nam Quốc Dân Đảng được thành lập do Nguyễn Thái Học được bầu làm Chủ tịch Đảng. Như vậy, cả hai Đảng đều có chung mục tiêu “Đánh người Pháp ra khỏi nước Nam, giành nước Nam lại cho người Nam” nên đã sáp nhập lại làm một. Từ sự sáp nhập này, Nguyễn Thái Học và Cô Giang gặp nhau, rồi yêu nhau...

    Vào một buổi chiều từ Phú Thọ về xuôi, Nguyễn Thái Học và Cô Giang ghé vào Đền Hùng để hội đàm với các đồng chí của mình, đến đền thờ Tổ để chiêm bái và hứa với nhau sẽ tổ chức đám cưới sau khi cách mạng thành công. Cô Giang hứa: “Chỉ có một con đường duy nhất là làm cách mạng. Nếu như anh có vì Tổ quốc mà hy sinh thì em cũng quyết dùng khẩu súng lục của anh trao mà chết theo...”.

    Hoạt động trong Việt Nam Quốc Dân Đảng, Cô Giang và Cô Bắc được giao nhiệm vụ tuyên truyền quần chúng, làm công tác binh vận, làm liên lạc viên giữa các cơ sở Đảng ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Yên Bái... Hai chị em Cô Giang đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc.

    Tờ mờ sáng ngày 10-2-1930, Việt Nam Quốc Dân Đảng quyết định dồn hết lực lượng để khởi nghĩa, dù “không thành công cũng thành nhân”. Chị em Cô Giang phụ trách chi bộ khu nữ vận chuyển vũ khí từ Phú Thọ lên Yên Bái bằng xe lửa. Các nữ đảng viên giả làm người buôn bán gạo, cám, hoa quả... gồng gánh cồng kềnh nhưng phía dưới là mã tấu, lựu đạn, súng ống... Cuộc khởi nghĩa nổ ra ở nhiều nơi, tuy không thành công, nhưng đã gây được tiếng vang chấn động dư luận trong và ngoài nước.

    Ngày 16-10-1930, Cô Giang nghe tin giặc đưa Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí lên Yên Bái để hành hình, Cô Giang đã cải trang, giấu súng trong người rồi lên tàu hỏa đến đó. Tờ mờ sáng 17-10-1930, giặc Pháp đưa 13 anh hùng lên máy chém. Cô Giang đứng lặng quan sát, nghiến răng, môi mím chặt... nén nỗi đau xé tâm can. Sau đó cô quay về phòng trọ viết hai lá thư tuyệt mệnh trong tiếng khóc nức nở.

    Ngày 18-10-1930, Cô Giang tự sát bằng súng dưới gốc cây đề - quê Nguyễn Thái Học.

    Hai bức thư của Cô Giang trước khi tuẫn tiết

    Bức Thứ Nhất:

    Thưa Thày, Mẹ,
    Con chết là vì hoàn cảnh bó buộc con. Không báo được thù nhà, rửa được nhục cho nước! Sau khi đã đem tấm lòng trinh bạch dâng cho chồng con ở Đền Hùng. Giờ con tìm về chỗ quê cha đất tổ, mượn phát súng này mà kết liễu đời con. Đứa con dâu bất hiếu kính lạy,
    Nguyễn Thị Giang.

    Bức Thứ Hai:

    Anh đã là người yêu nước!
    Không làm tròn được nghĩa vụ cứu quốc!
    Anh giữ lấy tấm linh hồn cao cả để về chiêu binh rèn lính ở dưới suối vàng!
    Phải chịu đựng nhục nhã mới có ngày mong được vẻ vang!
    Các bạn đồng chí phải sống lại sau anh để đánh đổ cường quyền mà cứu lấy đồng bào đau khổ.
    Thân không giúp ích cho đời!
    Thù không trả được cho người tình chung!
    Dẫu rằng đương độ trẻ trung,
    Quyết vì dân chúng thề lòng hy sinh;
    Con đường tiến bộ mông mênh,
    Éo le hoàn cảnh buộc mình biết sao!
    Bây giờ hết kiếp thơ đào,
    Gian nan bỏ mặc đồng bào từ đây!
    Dẫu rằng chút phận thơ ngây,
    Sổ đồng chí đã có ngày ghi tên;
    Chết đi dạ những buồn phiền,
    Nhưng mà hoàn cảnh truân chuyên buộc mình!
    Đảng kỳ phất phới trên thành,
    Tủi thân không được chết vinh dưới cờ!
    Cực lòng nhỡ bước sa cơ,
    Chết sầu chết thảm có thừa sót sa,
    Thế ru! Đời thế ru mà.
    Đời mà ai biết! Người mà ai hay!
    Nguyễn Thị Giang

    Khi nghe tin Cô Giang tuẫn tiết Phan Bội Châu cảm khái làm bài văn tế:

    Than rằng:
    Sóng nhân đạo ở hai mươi thế kỷ, bạn má hồng toan cướp gái làm trai – Gương nữ hùng trên một góc trời Nam, bọn da trắng phải ghê giòng giống Việt.
    Trên quốc sử mực chàm giấy phấn, ong cả đoàn nhan nhản bầy nô, – Dưới Long Thành máu thắm cỏ xanh, gái đến thế rành rành chữ liệt.
    Trăng thu mờ mịt, trông những buồn tênh! Người ngọc xa vời, nghĩ càng đau tuyệt.
    Nhớ nữ liệt sĩ xưa:
    Đất nhả tinh hoa – trời treo băng tuyết.
    Vóc quần thoa nhưng chí khí tu mi – Thân khuê các mà can trường khí tiết.
    Thuở bé nhờ ơn gia giáo, Hán học vừa thông – Tuổi xanh vào chốn học trường, Pháp văn cũng biết
    Tang hải gặp khi xoay cuộc, ngó giang sơn luống những lòng đau – Trần ai tức lôí không người, thâý nô lệ giương đôi tròng ngút.
    Xem sách Pháp từng đem óc nghĩ: Dan Đà, La Lan thuở nọ, chị em mình đã dễ ai hơn, – Giở sử nhà bỗng vỗ tay reo: Bà Trưng, Cô Triệu sau này, non nước ấy có đâu hồn chết.
    Triều cách mạng đang dâng sùng sục, cát Vệ Tinh ngậm đầy trước miệng, mong thấy bể vùi, – Vai quốc dân nặng gánh trìu trìu, đá Oa Hùng dắp sẵn trong tay, nỡ xem trời khuyết.
    Tức tội cường quyền – Thi gan sấm sét.
    Khi nhập đảng tuổi vừa mười tám, cơ nữ binh đăng đội tiền phong; – Lúc tuyên truyền sách động ba quân, lưỡi biện sĩ trổ tài du thuyết.
    Thổi gió phun mây từng mấy trận, nào Lâm Thao, nào Yên Bái, nữ tham mưu đưa đẩy đội hùng binh; – Vaò sinh ra tử biết bao phen, kia thành huyện, kìa đồn binh, cờ nương tử xông pha hùm rắn rết.
    Nguyễn Thái Học trổ tài kiện tướng, nhờ có cô mà lông cánh thêm dài – Phạm thị Hào nổi tiếng trung trinh, em có chị mà xứng danh nữ kiệt.
    Khốn nỗi thay!
    Vận nước còn truân – Tai trời chửa hết!
    Trắc trở buồm xuôi gió ngược, tài anh thư gặp bước gian truân. – Ngại ngùng nước biếc non xanh, tay chức nữ uổng công thêu dệt.
    Nhưng hãy còn:
    Thiết thạch tâm can, – Châu toàn bách chiết.
    Thời như thế, việc đành phải thế, đoạn đầu đài mừng được thấy anh lên. – Sống là còn thác vẫn là còn, súng kề cổ không nhường cho giặc giết.
    Tiếng súng lúc vang lên một phát, núi đổ sông nhào! – Hồn anh thư hẹn phút trùng lai, thần gào quỷ thét
    Ôi thương ôi!
    Khóc nữa mà chi! – Nói không kể xiết!
    Một nén hương lòng, – Mấy lời thống thiết!
    Bạn nữ lưu ai nối gót theo chân? – Nghĩa đoàn thể, xin từ đây cố kết!
    Hỡi ơi! thương thay!

    Sau khi Cô Giang chết, nhiều người đã khóc bằng những vần thơ cảm động, trong dân gian xuất hiện bài vè ca ngợi tấm gương hy sinh của liệt sĩ Nguyễn Thị Giang. Sống trên dương thế chỉ ngoài 20 xuân, nhưng chị em Cô Giang đã lưu danh trong sử sách. Và có thể khẳng định khí tiết và tấm lòng chung thủy của Nguyễn Thị Giang khá tiêu biểu cho phụ nữ nước ta xưa và nay. Cô Giang xứng đáng được xếp vào hàng “các vị nữ danh nhân đất Việt”.

    Sưu tầm

    Nguồn: Bài viết của NGUYỄN HOÀNG LÊ
    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 10:55 02/04/2009
    Số lượt xem: 1357
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến