Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.
PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRANH ẢNH VÀ LƯỢCĐỒTRONGSÁCHGIÁOKHOA LỊCH SỬ- sử 9- Bài 19
Bài 19
1 Phong trào cách mạng trong những năm 1930-1935
1. Lược đồ Phong trào Nghệ – Tĩnh (1930-1931)”
-Nội dung:
Trong phong trào cách mạng 1930-1931, dưới sự lãnh đạo của đảng thì Nghệ Tĩnh là nơi phát triển mạnh mẽ nhất”. “Nghệ- Tĩnh là một mảnh đất giàu truyền thống cách mạng (thể hiện qua các cuộc khởi nghĩa cần vương) nhưng là vùng đất nghèo, thiên nhiên khắc nghiệt, lại bị thực dân, phong kiến đàn áp, bóc lột tàn bạo.
Chúng khẳng định: “Hữu Nghệ – Tĩnh bất phú, vô Nghệ – Tĩnh bất bần” (có Nghệ – Tĩnh không giàu, không có Nghệ – Tĩnh cũng chẳng nghèo). Tuy nhiên, tại đây có khu công nghiệp tập trung đông công nhân là Vinh, Bến Thuỷ (trên 6 nghìn người).Trong hoàn cảnh như vậy, Nghệ – Tĩnh có một đảng bộ mạnh với 2011 đảng viên và các tổ chức của quần chúng phát triển (399 hội viên công hội; 48464 hội viên nông hội; 6648 hội viên phụ nữ; 2350 đoàn viên thanh niên cộng sản).
Phong trào cách mạng của nhân dân nghệ tĩnh đã phát triển thành các đợt sóng đấu tranh, càng ngày càng cao hơn, dồn dập hơn, quyết liệt hơn.Ngày 19/4/1930, mở đầu cho cao trào đấu tranh là cuộc đấu tranh của 400 công nhân nhà máy diêm Bến Thuỷ đòi tăng lương, cải thiện điều kiện làm việc.Ngày 1/5/1930, bước ngoặt của phong trào.
Nhân ngày quốc tế lao động 1/5/1930, công nhân nhà máy Diêm Bến Thủy cùng hàng ngàn nhân dân các vùng lân cận thị xã Vinh rầm rộ biểu tình, thị uy, phát cao cờ đỏ búa liềm, đòi tăng lương, bớt giờ làm, giảm sưu thuế… nông dân các làng Hạnh Lâm, La Mạc, Đức Nhuận (Thanh Chương) biểu tình; hàng trăm học sinh trường tiểu học ở Nghệ an cũng biểu tình, sát cánh cùng công nhân Vinh, Bến Thuỷ…Bước sang tháng 8/1939, phong trào ngày càng lên cao mạnh mẽ.Ngày 1/8/1930, bùng nổ cuộc tổng bãi công của toàn thể công nhân khu công nghiệp Vinh, Bến Thuỷ nhân ngày quốc tế chống chiến tranh đế quốc.
Tiếp đó là cuộc biểu tình có vũ trang tự vệ của nông dân đã diễn ra ở hầu hết các huyện của 2 tỉnh Nghệ- Tĩnh như Nam Đàn, Cam Lộc, Thanh Chương, Đô Lương, Anh Sơn…Tháng 9/1930, phong trào đấu tranh của nhân dân 2 tỉnh Nghệ – Tĩnh đạt tới đỉnh cao, những cuộc đấu tranh với quy mô từ vài nghìn đến vài vạn người tham gia nổ ra ở các huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Diễn Châu, Anh Sơn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Đô Lương, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên… trong đó tiêu biểu nhất là cuộc biểu tình khổng lồ ngày 12/9/1930 của 2 vạn người ở Hưng Nguyên.
Đế quốc Pháp cho máy bay tớ ném bom làm 217 người chết và 126 người bị thương, càng làm cho ngọn lửa đấu tranh bốc cao hơn. Quần chúng tiếp tục biểu tình thị uy, kéo lên phá huyện lị, cắt dây điện tín, phá nhà giam…Trước khí thế đấu tranh của quần chúng, bộ máy chính quyền của đế quốc và phong kiến tay sai ở nhiều huyện, xã thuộc 2 tỉnh tê liệt, tan rã. Thay vào đó là sự thành lập các xô viết để tự quản và làm nhiệm vụ của chính quyền nhân dân .Xô viết kiên quyết chấn át kẻ thù của cách mạng, thi hành các chính sách đem lại quyền lợi cho nhân dân, tổ chức cuộc sống mới ở nông thôn Nghệ – Tĩnh…”
“Trên gió cả cờ đào phất thẳng,
Dưới đất bằng giấy trắng tung ra.
Giữa đàng một trận xông pha,
Bên kia đạn sắt, bên ta tên vàng…”.
Thực dân Pháp điền cuồng cho máy bay ném bom và xả súng bắn vào đoàn biểu tỉnh ngày 12/9/1930 tại Hưng Nguyên làm nhiều người chết, xong chúng không thể khuất phục được tinh thần, ý chí đấu tranh của quần chúng nhân dân.. Toàn quyền Rôbanh lúc bấy giờ rằng, sự tàn bậo của kẻ thù chứng tỏ chúng “hoàn toàn bất lực, chẳng làm được gì để ngăn cản sự mở rộng của phong trào”.
Khi đánh giá về phong trào này Nguyễn ái Quốc nhận xét: “Nghệ – Tĩnh thật xứng đáng với danh hiệu đỏ. Bom đạn, súng máy, đốt nhà, đồn binh… đều bất lực không dập tắt nổi phong trào cách mạng của Nghệ – Tĩnh”.
Tranh Xô viết Nghệ -Tĩnh
-Hướng dẫn sử dụng:
Trước hết GV hướng dẫn học sinh quan sát lược đồ và yêu cầu HS nêu hoàn cảnh địa lí, lịch sử của Nghệ
– TĩnhGV tổ chức cho HS tìm hiểu phong trào Xô Viết Nghệ –Tĩnh trên lược đồ bằng các câu hỏi:
Tại sao phong trào ở Nghệ – Tĩnh đạt tới đỉnh cao?”.
Hướng dẫn học sinh nêu nên những nhận xét về hình thức đấu tranh, tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân, của các chiến sĩ cộng sản.
Phân tích ý nghĩa của phong trào Xô viết Nghệ- Tĩnh.
Sau khi học sinh trao đổi, trả lời, giáo viên chốt lại .
2. CÔNG – NÔNG VIỆT NAM ĐẤU TRANH TRONG NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG (1/5/1930)
Năm 1930, nhân ngày kỷ niệm quốc tế lao động ngày 1/5, Đảng Cộng sản Việt Nam phát động một phong trào đấu tranh rộng lớn trong phạm vi cả nước.Ở Nam Kì, công nhân nhà máy điện Chợ Quán (Sài Gòn) và nhà máy xe lửa Dĩ An bãi công. Khoảng 10 nghìn nông dân huyện Đức Hoà (Chợ Lớn), hơn 1500 công nhân huyện Cao Lãnh (Sa Đéc), 1000 nông dân huyện chợ mới (Long Xuyên) và nông dân các tỉnh Gia Định, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bến Tre, Trà Vinh, Mỹ Tho biểu tình đòi bỏ sưu, hoãn thúê.
Tại Bắc Kì, công nhân khu mỏ Hồng Gai bãi công, biểu tình. Lần đầu tiên ở vùng mỏ, lá cờ đỏ búa liềm được treo trên đỉnh núi Bài Thơ.
Tại Thái Bình, nông dân 2 huyện Duyên Hà và Tiên Hưng biểu tình đòi bỏ sưu, giảm thuế, đòi trả tự do cho những người bị bắt.
Tại Trung Kì, nông dân các tỉnh từ Thanh Hoá, Quảng Bình, Quảng Nam đến Khánh Hoà, Bình Thuận đã nổi dậy đấu tranh. Ngày 1/5/1930, cờ đỏ búa liềm lần đầu tiên xuất hiện ở Quảng Nam, tại một số huyện có rải truyền đơn, treo cờ đảng.Đặc biệt, sáng ngày 1/5/1930, công nhân khu công nghiệp Bến Thuỷ và nông dân 5 xã ven thành phố Vinh đã biểu tình đòi tăng lương, giảm giờ làm, bở sưu, giảm thuế, chống khủng bố, đòi bồi thường thiệt hại cho các gia đình bị tàn sát trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái, ủng hộ cuộc đấu tranh của công nhân nhà máy sợi Nam Định. Chính quyền thực dân thẳng tay đàn áp. Binh lính bắn vào đoàn biểu tình làm 7 người chết, 18 người bị thương và bắt đi 98 người. Quần chúng tiếp tục đấu tranh, tổ chức truy điệu những người đã hi sinh, tố cáo tội ác của Đế quốc Pháp, đòi quỳên dân sinh, dân chủ.Các cuộc đấu tranh trong ngày 1/5 là một bước ngoặt của cao trào cách mạng 1930-1931. Lần đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng, công nông nước ta biểu tình kỷ niệm ngày quốc tế lao động. Trong phong trào đấu tranh đã thể hiện rõ vai trò lãnh đạo và tính tiên phong của giai cấp công nhân, mối liên minh giữa công nhân và nông dân. (Theo: Đinh Xuân Lâm (chủ biên)Đại cương lịch sử Việt Nam, Tập 2, Sđd)
3. CHÍNH QUYỀN XÔ VIẾT NGHỆ – TĨNH
Cuối tháng 8, đầu tháng 9 năm 1930, nhất là sau vụ máy bay Pháp ném bom cuộc biểu tình của nông dân huyện Hưng Nguyên (Nghệ An), hàng vạn nông dân ở nhiều huyện đã tổ chức các cuộc biểu tình đến các huyện nị, đốt sổ sách, phá nhà lao. Chính quyền thực dân tay sai nhiều nơi bị tê liệt ở cấp huyện và tan rã ở cấp xã. Nhiều cấp uỷ đảng ở thôn xã đã lãnh đạo nông dân và quần chúng lập ra chính quyền cách mạng của công nhân, nông dân và quần chúng lao động, sau này gọi là Chính quyền Xô Viết.
Từ tháng 9/1930 đến đầu năm 1931, chính quyền Xô Viết đã thực hiện quyền làm chủ của quần chúng, điều hành mọi mặt đời sống xã hội.-
Về chính trị: Ban bố quyền tự do dân chủ của nhân dân, tổ chức cho quần chúng tham gia các đoàn thể cách mạng, tự do bàn bạc, góp ý kiến giải quýêt các vấn đề xã hội; phổ biến sách báo cách mạng; trừng trị bọn phản cách mạng, quản chế bọn hào lý, giữ gìn trật tự trị an.
-Về kinh tế: Chia lại công điền, công thổ cho cả nam và nữ, thực hiện giảm tô, xoá nợ; thủ tiêu các thứ thuế vô lý như: thuế thân, thuế muối, lấy thóc của địa chủ để cứu đói; tổ chức đào mương, chống hạn, củng cố đê điều, giúp nhau trong sản xuất.
- Về văn hoá xã hội : Mở trường cho trẻ em, mở các lớp dạy chữ Quốc ngữ cho người lớn, bài trừ hủ tục, mê tín, dị đoan; thực hiện nếp sống lành mạnh trong cưới xin , ma chay; tổ chức cứu tế người nghèo; phát triển thơ ca, cổ vũ tinh thần yêu nước và cách mạng.Dưới chính quyền xô viết, làng xóm lúc nào cũng như ngày hội.
(Theo:Giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd)
4. ĐỒN ĐIỀN CAO SU PHÚ RIỀNG - ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN
Sau 2 ngày ô tô lắc kinh hồn, 150 anh em Hà Nam chúng tôi đặt chân lên đất Phú Riềng. Bước xuống xe, ai lấy kinh hoàng nhìn quanh cái nơi chúng tôi sắp phải sống cho qua 3 năm.
Phú Riềng là một địa điểm nằm ở miền cực Tây cao nguyên Di Linh. Phú Riềng nằm giữa lòng một rừng già nhiệt đới, phía Bắc là vùng biên giới ba sứ Nam, Trung và Cao miên, phía Tây là vùng rừng Lộc Ninh rồi tới Cam-pu-chia bây giờ.Những người dân đồng bằng chúng tôi bơ vơ, rách rưới đứng trước cảnh rừng rậm bao la, hoang vu, hoàn toàn bị ngợp. Vì thế, ai lấy càng thêm lo lắng, càng thêm nhớ nhà.Đồn điền Phú Riềng thuộc tài sản của công ty cao su Mi-sơ-lanh. Anh em chúng tôi là toán công nhân đầu tiên tới đó để khai phá, làm lụng.Khí hậu vùng này nóng lực, ẩm thấp mà lán không trổ cửa sổ, mái lợp tôn thấp lè tè cho nên ở trong lán, người ta có cảm giác như sống trong hoả lò, quanh năm ngày tháng.
Về tổ chức, cứ khoảng 1km, chúng cho lập một làng. Mỗi làng là một đội sản xuất và đồng thời là một đơn vị hành chính. Đến giờ tầm đi làm, chúng tôi họp thành từng kíp khoảng chục người, có một cai người Việt trông coi, trên cấp cai là bụn Su-vây-dăng, mỗi thằng coi và ba kíp.
Bọn Su-vây-dăng ở dưới quyền mấy tên Su-vây-dăng xếp. Mấy tên này điều khiển mọi công việc của Phú Riềng.Tất cả bọn này, từ chủ đất đến Su-vây-dăng, đều là bọn được tuyển lựa từ quân đội Pháp đưa vào. còn nói chung, bọn Su-vây-dăng đều là những tên đao phủ, những con quỷ sứ hung ác, ghê gớm của địa ngục trần gian Phú Riềng. Đứa nào chửi công nhân giỏi sẽ lên lương mau, đứa nào đánh công nhân cho thật ác cũng lên lương rất mau.Những hình phạt thông thường nhất là bắt chật quần, đánh vào mông đít, hoặc đánh vào chân đến mất gan bàn chân. Đánh xong còn bị giam trong nhà tối, chân bị cùm, bỏ đói hàng 2, 3 ngày. Có người bị bỏ quên trong đó đến chết khô. Nữ công nhân nom sạch mắt một chút lại càng tội nghiệp. Hết Su-vây-dăng xếp đến Su-vây-dăng thường, rồi cai tây, cai ta gọi lên. Chỉ qua vài tuần, thân đã tàn tạ chẳng khác nào chiếc lá héo. Nếu người ấy có chồng, còn liên luỵ cả đến chồng. Ai chống cự, cưỡng lại chúng nó thì chúng nó đánh người chồng đến chết, còn vớ vẩn thì bị cướp đi mất, đến lúc nó dầy vò chán chê rồi thả cho về là đã ra ma.Ngay sau khi đến Phú Riềng một ngày, bọn chủ đã phát đồ nghề làm ăn cho chúng tôi. Mỗi người một nón lá một áo tơi; mỗi người và giữ và bảo quản một con rựa, một cái cuốc và một lưỡi búa nguyệt. Đồ nghề toàn hạng tốt bằng thép đúc đưa từ Pháp sang.
Chúng tôi phải mài dao cho thật sáng, thật bén. Bọn “Su” khám luôn, hễ thấy cùn cùn hoặc chớm rỉ là đòn đau ngay. Ngoài các thứ đó ra, mỗi người còn phải được phát thêm một mảnh gỗ đánh số để đeo vào cổ như số tù.Bấy giờ ở Phú Riềng còn là rừng hoang, chưa có một gốc cao su nào. Chúng tôi phải phá hoang từng khoảnh rừng lớn để sửa soạn trồng cây cao su. Công việc khai phá buổi đầu rất nặng nhọc, nguy hiểm, mà sự bảo trợ lại hoàn toàn không có.Trước tiên công nhân phải hạ cây, phát bụi, phơi nắng cho khô rồi nổi lửa đốt. Đi hạ cây chẳng mấy tuần mà không có người bị cây đè chết. Buổi sáng đi làm cứ lơm lớp chẳng biết đến chiều có còn sống sót mà về không.
Công việc đã nguy hiểm mà làm lụng lại cũng rất nặng nhọc.Mỗi sáng sớm, chúng tôi phải thức giấc từ 4 giờ để nấu cơm ăn, 5 giờ rưỡi tề tựu xếp hàng trong sân làng để bọn Su-vây-dăng điểm danh. Lúc điểm danh mấy thằng “Su” lại dùng ba tong gõ vào đầu công nhân côm cốp mà đếm. Cái trò ấy chẳng thằng nào không làm, chúng giường như thích thú là khác. Hễ ai đến chậm vài phút, chúng phạt một đồng mà lương chúng tôi khi đó chỉ có 4 hào một ngày công. Khí hậu vùng này độc mỗi rừng rất nhiều, con nào con ấy to tướng, màu vàng hoe, cánh trông óng ánh.
Chúng bay vo vo trên không rồi xà xuống đốt thấu quần áo anh em chúng tôi. Đấy là loại muỗi sốt rét, lúc đậu đuôi cong vắt chổng ngược lên trời; đã vậy nước uống lại không đung sôi, ai khát cứ tự mình tìm khe, tìm vực mà uống. Vì vậy bệnh sốt rét lan tràn rất nhanh.
Chỉ một tháng sau khi tới Phú Riềng, chẳng còn một ai mà chưa lên cơn sốt.Làm việc nặng nhọc quá mức trong một miền khí hậu xấu, mà chúng tôi lại phải ăn uống quá ư kham khổ. Theo hợp đồng trươc đã ký thì chúng tôi được phát gạo không phải trả tiền mà còn được mua thức ăn rẻ của đồn điền.Nhưng bây giờ chúng tôi phải nhận 24 kg gạo trừ vào lương hàng tháng. không ai được đong gạo hoặc mua thức ăn tự ý ở bên ngoài.Gạo đồn điền là thứ gạo nứt vón hòn, giá lại cao hơn giá gạo tốt ở bên ngoài.
Cứ đầu tháng, đồn điện phát cho chúng tôi tích kê gạo để lĩnh dần dần. Thức ăn chỉ có một món cổ truyền là cá mắm hạng xấu, chúng nó tính giá cao như vàng. Hễ ai ho he một câu, bọn “Su” ra roi như mưa bấc.Vì vậy ngoài bệnh sốt rét ra, còn chứng kiết nị trở thành kinh niên trong công nhân cao su. Người ngợm cứ gầy rộc đi trông thấy, thân thể rạc dần, rạc dần rồi chết khô, chết héo làm phân bón cho mấy gốc cao su của bọn chủ tư sản.
Ở Phú Riềng, công ty Mi-sơ-lanh không lập “nhà trẻ” vì một lẽ đơn giản: do điều kiện vệ sinh, y tế, ăn ở quá ư tồi tệ nên trẻ em ở chỉ có sinh ra mà không sao nuôi được.
Suốt 3 năm tôi ở Phú Riềng là 3 năm không hề được nghe tiếng trẻ bi bô.Cuộc sống khổ cực quá. vì thế anh em chúng tôi thường hát câu ca dao nói về cảnh ngộ của mình như thế này:
“Lỡ lầm vào đất cao su
Chẳng tù thì cũng như tù trung thân”
(Theo: Trần Tử Bình, Phú Riềng đỏ.NXB Lao động, Hà Nội 1971)
Đoàn thị Hồng Điệp sưu tầm và tổng hợp.
Đoàn Thị Hồng Điệp @ 10:37 11/03/2011
Số lượt xem: 4019
- PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRANH ẢNH VÀ LƯỢC ĐỒ TRONG SÁCHGIÁO KHOA LỊCH SỬ- sử 9- Bài 18 (10/01/11)
- PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRANH ẢNH VÀ LƯỢC ĐỒ TRONG SÁCHGIÁO KHOA LỊCH SỬ- sử 9- Bài 17 (10/01/11)
- PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRANH ẢNH VÀ LƯỢC ĐỒ TRONG SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ- sử 9- Bài 16 (30/10/10)
- PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRANH ẢNH VÀ LƯỢC ĐỒ TRONG SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ- sử 9- Bài 15 (24/10/10)
- PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRANH ẢNH VÀ LƯỢC ĐỒ TRONG SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ- sử 9- Bài 14 (18/10/10)
Các ý kiến mới nhất