Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.
Phong trào Cần Vương chống Pháp (1885-1896)

Lược đồ cuộc phản công ở kinh thành Huế và phong trào Cần Vương 1885-1895.
I. Cuộc binh biến kinh thành Huế và sự ra đời của chiếu Cần Vương1. Cuộc phản công ở kinh thành Huế năm 1885.
Tại triều đình Huế, sau khi vua Tự Đức mất (7-1883) thì sự phân hóa trong nội bộ đình thần, quan lại nhà Nguyễn càng sâu sắc, triều đình phân hóa thành 2 phe rõ rệt - phe chủ chiến và phe chủ hòa. Phe chủ chiến kiên quyết không khuất phục thực dân Pháp, muốn cứu lấy sự tồn tại của đất nước, của triều đình. Còn phe chủ hòa sẵn sàng quy thuận và hợp tác với Pháp để bảo vệ quyền lợi giai cấp. Đứng đầu phe chủ chiến là Tôn Thất Thuyết. Tôn Thất Thuyết là Thượng thư Bộ binh, nắm giữ quân đội trong tay và là nhân vật quan trọng nhất trong Hội đồng phụ chính. Ngoài ra, Tôn Thất Thuyết còn có liên hệ mật thiết với nhiều thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp.
Tôn Thất Thuyết quyết tâm xây dựng, củng cố lực lượng để quyết chiến với thực dân Pháp. Ông cho thành lập một hệ thống sơn phòng từ Quảng Trị đến Ninh Bình và từ Quảng Nam đến Bình Thuận; chiêu mộ thêm nghĩa binh, tăng cường xây dựng đồn lũy. Tại Huế, ông cho củng cố quân đội va lập thêm 2 đạo quân đặc biệt - Phấn Nghĩa quân và Đoàn Kiệt quân. Đây là đội quân cơ động, tinh nhuệ trong các cuộc đối đầu với Pháp và bảo vệ vua cùng Hội đồng phụ chính.
Ngày 31.7.1884, Tôn Thất Thuyết cho phế truất vua Kiến Phúc - một ông vua có tư tưởng thân Pháp - và đưa Ưng Lịch mới 14 tuổi lên ngôi - vua Hàm Nghi.
Cuối năm 1884, giữa lúc quân Pháp đang khốn đốn ở Bắc Kỳ, phe chủ chiến ở Huế, cầm đầu là Tôn Thất Thuyết, lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi phản đối việc 300 quân Pháp kéo vào Huế lập căn cứ Mang Cá ngay trong Hoàng thành. Đáp lại Pháp cho tăng thêm số quân đóng ở Mang Cá lên hàng ngàn tên.
Tôn Thất Thuyết huy động số quân còn lại ở các địa phương tập trung về Huế, bí mật tổ chức một cuộc phản công. Dò biết tình hình, ngày 27.6.1885 De Courcy (tổng chỉ huy vừa được cử sang) đem 4 đại đội và 2 tàu chiến từ Hải Phòng vào thẳng Huế nhằm loại trừ phe chủ chiến, dự định bắt cóc Tôn Thất Thuyết.
Ngày 2.7.1885, De Courcy đến Thuận An, lên Huế, yêu cầu Hội đồng phụ chính đến hội thương. Tôn Thất Thuyết cáo bệnh không đến, gấp rút chấn chỉnh quân sĩ, đào hào đắp lũy trong thành, bố trí hai đạo quân đặc biệt phòng thủ hoàng thành, nhằm giành thế chủ động trước khi De Courcy bày đặt việc triều yết vua Hàm Nghi để đột nhập hoàng thành.
Đêm 4.7.1885, giữa lúc De Courcy đang dự tiệc ở sứ quán bên kia sông Hương và bàn kế đột nhập thành Huế thì Tôn Thất Thuyết bí mật chia quân làm hai cánh. Cánh thứ nhất (do Tôn Thất Lệ chỉ huy) có nhiệm vụ tấn công sứ quán Pháp. Cánh thứ hai (do Tôn Thất Thuyết đích thân chỉ huy) sẽ đánh úp tiêu diệt toàn bộ lính Pháp ở đồn Mang Cá.
Đúng 1 giờ sáng ngày 5.7.1885, lệnh phát hỏa vừa dứt, đồn Mang Cá bốc cháy, quân ta đột nhập đồn, lính Pháp rối loạn, vài sĩ quan bị thương, bị chết. Đồng thời sứ quán Pháp bên kia sông Hương cũng bị tấn công, các trại lính địch bốc cháy dữ dội. De Courcy đối phó cầm chừng, chờ sáng. Trại Mang Cá, lợi dụng quân ta chuyển hướng tấn công sang sứ quán, địch kéo 3 đội quân vào chiếm thành Huế, đốt phá dinh thự, tàn sát dân chúng, vượt qua các ổ phục kích lọt được vào hoàng thành.
2.Cuộc xuất bôn của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết .
Nhưng Tôn Thất Thuyết đã bí mật rước vua Hàm Nghi khẩn trương ra khỏi kinh thành để ra Quảng Trị, lên sơn phòng Tân Sở đã được chuẩn bị từ trước. Nhưng trên đường hộ tống xa giá thì một cuộc phân hóa lại diễn ra trong đoàn hộ tống vua Hàm Nghi. Chỉ còn Tôn Thất Thuyết và rất ít quan lại ở lại Tân Sở, phần lớn hộ tống tam cung quay lại triều đình.
Ngày 13.7.1885, Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi hạ chiếu “Cần Vương” lần thứ nhất. Ở Quảng Trị một thời gian, để tránh sự truy lùng gắt gao của Pháp, Tôn Thất Thuyết lại đưa vua Hàm Nghi vượt qua đất Lào đến sơn phòng Ấu Sơn (Hương Khê - Hà Tĩnh). Tại đây, ngày 20.9.1885 vua Hàm Nghi lại xuống chiếu Cần Vương lần hai.
Nội dung 2 tờ chiếu Cần Vương tập trung tố cáo âm mưu xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp, xác định tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến, nhằm mục đích “diệt trừ giặc Pháp và bọn phản quốc”, đồng thời còn kêu gọi sĩ phu, văn thân và nhân dân cả nước đứng lên kháng chiến phò vua, cứu nước.
Chiếu Cần Vương ban ra đã đánh dấu một mốc mới trong lịch sử chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam hồi cuối thế kỷ XIX.
Mặc dù diễn ra dưới danh nghĩa Cần Vương, nhưng thực tế đây là một phong trào đấu tranh yêu nước chống Pháp xâm lược của nhân dân và hoàn toàn không có sự tham gia của quân đội triều đình.
II. Phong trào khởi nghĩa hưởng ứng chiếu Cần Vương
Ngay sau khi chiếu Cần Vương được ban ra thì đông đảo văn thân và sĩ phu yêu nước đã tích cực hưởng ứng, tạo nên một phong trào kháng chiến sôi nổi và rộng khắp. Trước khi quy tụ lại thành những khởi nghĩa lớn, phong trào đã diễn ra trên tất cả các tỉnh mà trung tâm chính là nơi đặt đại bản doanh của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết tại vùng rừng núi giữa tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh. Tại đây có mặt một số tướng tài như Trần Xuân Soạn (chỉ huy Phấn Nghĩa quân), Nguyễn Phạm Tuân, Lê Trực… được nghĩa quân và nhân dân ủng hộ tận tình. Công việc xây dựng căn cứ và tổ chức phòng thủ đạt hiệu quả cao, từ cuối năm 1885 đến cuối 1886, thực dân Pháp 3 lần tập trung binh lực để tấn công, nhưng đều bị thất bại, căn cứ vẫn được giữ vững. Tuy nhiên, từ giữa năm 1867 trở đi, đại bản doanh của phong trào Cần Vương từng bước đã bị phá vỡ do Pháp thay đổi chiến thuật: sử dụng những toán quân cơ động nhỏ đột kích vào từng khu vực, đồng thời tăng cường các hoạt động tình báo, do thám và ra sức mua chuộc các phần tử dao động.
Trong một lần bị bất ngờ tấn công, Nguyễn Phạm Tuân hy sinh. Tiếp đó, lực lượng nghĩa quân dưới quyền chỉ huy của Lê Trực cũng bị tổn thất nghiêm trọng.
Ngày 1.11.1888, do sự phản bội của Trương Quang Ngọc (một trong những vệ sĩ của vua), Hàm Nghi bị bắt. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ vua Hàm Nghi, hai người con trai của Tôn Thất Thuyết là Tôn Thất Thiệp và Tôn Thất Đạm cũng đã hy sinh.
Trước đó, vào năm 1886 Tôn Thất Thuyết đã lên đường sang Trung Quốc cầu viện, nhưng nhà Thanh đã bắt tay với Pháp nên chuyến đi thất bại. Không về nước được, Tôn Thất Thuyết mất tại Trung Quốc vào năm 1913.
Còn Lê Trực thì sau đó ra hàng Pháp rồi lui về sống ẩn dật đến chết.
Trung tâm của phong trào Cần Vương tại Quảng Bình tan rã từ khi vua Hàm Nghi bị bắt, nhưng ở các nơi khác thì những cuộc khởi nghĩa vẫn được duy trì.
- Vùng Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận có các cuộc khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng, Bùi Điền, Nguyễn Đức Nhuận, Nguyễn Duy Cung…
- Vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi có Trần Văn Dự, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Thanh Phiến, Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Lân, Nguyễn Hàm (Tiểu La)…
- Vùng Quảng Trị, Thừa Thiên có Trương Đình Hội, Nguyễn Tự Như, Hoàng Văn Phúc…
- Vùng Thanh Nghệ tĩnh có Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng.
- Vùng Bắc Ninh, Hưng Yên có Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Cao…
- Vùng Thái Bình, Nam Định có Tạ Hiện, Lã Xuân Oai…
- Vùng Tây Bắc và hạ lưu sông Đà có Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Văn Giáp…
Càng về sau, các cuộc khởi nghĩa lẻ tẻ ngày càng có xu hướng quy tụ và tập trung lại thành các cuộc khởi nghĩa lớn. Tiêu biểu là khởi nghĩa Ba Đình, Hùng Lĩnh, Tây Bắc, Bãi Sậy và Hương Khê.
1· Khởi nghĩa Tây Bắc và hạ lưu sông Đà (1883 - 1893)
Khởi nghĩa nổi lên trước phong trào Cần Vương. Ngay khi Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ nhất, ở phủ Hưng Hóa có quan Tuần phủ Nguyễn Quang Bích cùng Nguyễn Văn Giáp đã lãnh đạo nhân dân địa phương chống cự lại Pháp. Không thành công nhưng 2 ông vẫn bền gan củng cố xây dựng lực lượng. Khi vua Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương, Nguyễn Quang Bích được phong “Hiệp thống Bắc kỳ quân vụ đại thần” thay mặt cho nhà vua tổ chức và lãnh đạo kháng chiến trong địa bàn Bắc kỳ. Với danh nghĩa đó, Nguyễn Quang Bích càng có thêm uy tín để đẩy mạnh hơn cuộc kháng chiến ở khu vực Tây Bắc. Trong hàng ngũ nghĩa quân không chỉ có người Việt mà còn có lực lượng các dân tộc Mường, Mán, Mèo, Thái… Nghĩa quân kiểm soát một địa bàn rộng lớn, chạy từ biên giới Việt - Trung đến Thái Nguyên.
Liên tục trong những năm từ 1885 - 1887, nghĩa quân tổ chức những trận đánh tấn công đồn bót, phục kích các đoàn xe tiếp tế gây cho Pháp nhiều thiệt hại.
Cuối năm 1887, Pháp bắt đầu tập trung lực lượng đối phó cuộc khởi nghĩa Tây Bắc. Trong năm 1888, Pháp tổ chức nhiều trận càn quét căn cứ nghĩa quân nhưng không đạt được kết quả.
Đầu năm 1889, Pháp thay đổi chính sách, bên cạnh việc duy trì áp lực quân sự, Pháp tăng cường các thủ đoạn chính trị thâm độc mà nổi bật nhất là gây chia rẽ giữa đồng bào người Việt và đồng bào thiểu số, tập trung mua chuộc các thủ lĩnh người dân tộc. Từ đó, điều kiện hoạt động của nghĩa quân trở nên khó khăn hơn.
Tháng 12.1889, Nguyễn Quang Bích lâm bệnh nặng và từ trần. Trước đó, Nguyễn Văn Giáp cũng đã mất (cuối năm 1887). Lợi dụng tình hình đó, Pháp tấn công mạnh vào căn cứ, nghĩa quân phải chuyển vùng sang Nghĩa Lộ. Tháng 3.1890, một thủ lĩnh quan trọng của nghĩa quân là Đèo Văn Trí (người Mèo) ra hàng. Cuộc khởi nghĩa Tây Bắc đến đây xem như tan rã. Thế nhưng ở vùng hạ lưu sông Đà (tiếp giáp với Tây Bắc) một bộ tướng của Nguyễn Quang Bích là Đốc Ngữ vẫn tiếp tục hoạt động. Nghĩa quân đặt căn cứ tại chân núi Ba Vì, đây là một vị trí có địa thế rất hiểm trở. Nghĩa quân ở đây sử dụng chiến thuật đánh du kích, trong đó nổi bật là trận đánh vào thị xã Sơn Tây cuối năm 1890, phá nhà tù giải phóng 174 người tù.
Trong hai tháng (2 và 3-1892) Pháp hai lần tấn công vào bản doanh của nghĩa quân nhưng không đạt kết quả gì. Đến tháng 3.1893, Pháp bao vây một khu vực rộng lớn toàn vùng hạ lưu sông Đà, nghĩa quân phải vượt sông để chuyển vào Thanh Hóa, nhưng Pháp truy kích quá ráo riết và cho quân đánh chặn đường, cuối cùng kế hoạch hội quân với Tống Duy Tân không thực hiện được. Đốc Ngữ và binh lính dưới quyền lại phải quay trở lại sông Đà trong tình hình lực lượng bị giảm sút đáng kể do thương vong, bệnh tật và cả nản chí.
Tháng 8.1893, bên cạnh Đốc Ngữ chỉ còn có 10 tướng và 30 quân. Pháp tung bọn nội gián vào trong hàng ngũ. Cuối tháng 8.1893, Đốc Ngữ cùng 10 bộ tướng bị giết, một số còn lại buộc phải ra hàng giặc. Cuộc khởi nghĩa vùng hạ lưu sông Đà (nối tiếp khởi nghĩa Tây Bắc) phải chấm dứt.
2· Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883 - 1892)

Lược đồ khởi nghĩa Bãi Sậy
Từ 1883 - 1885, ở vùng Bãi Sậy thuộc các huyện Văn Lâm, Văn Giang, Khoái Châu, Yên Mỹ thuộc tỉnh Hưng Yên đã tồn tại một phong trào kháng Pháp do Đinh Gia Quế lãnh đạo. Tháng 3.1885, Đinh Gia Quế mất. Vài tháng sau đó chiếu Cần Vương được ban hành và Nguyễn Thiện Thuật (vốn trước kia giữ chức Tán lý Quân vụ tỉnh Sơn Tây, sau khi Pháp chiếm Bắc kỳ thì bỏ sang Trung Quốc) đã trở về tập hợp nghĩa quân Bãi Sậy trước đây, mở rộng hơn nữa quy mô của cuộc khởi nghĩa. Trong hàng ngũ chỉ huy còn có một số tướng tài như Nguyễn Thiện Kế, Nguyễn Thiện Giang (2 em trai của Nguyễn Thiện Thuật), Nguyễn Đức Hiệu (Đốc Tít), Nguyễn Cao…
Nghĩa quân ở Bãi Sậy được phân thành những toán cơ động, mỗi toán có từ 20 - 25 người ở cùng với nhân dân để vừa sản xuất lương thực, vừa chế tạo vũ khí theo chủ trương “tịnh vi dân, động vi binh”. Và ngay trong thời gian đầu tập hợp lực lượng, nghĩa quân đã đánh những trận đối đầu quy mô với giặc, mà chủ yếu là tổ chức những trận tập kích, đột kích bất ngờ nhắm vào các toán quân đi tuần tiễu, các đồn bốt lẻ (Tháng 11.1886, 150 nghĩa quân giả làm phu khuân vác tấn công đồn Huỳnh Côi; Tháng 11.1888, hàng trăm nghĩa quân cải trang làm thợ gặt và lính ngụy đánh úp đồn địch tại Liêu Trang, diệt 31 tên địch;…).
Pháp một mặt đưa những binh đoàn lớn tấn công vào căn cứ, lùng sục khắp các huyện, mặt khác triệt phá những làng mạc xung quanh căn cứ để phong tỏa vùng lương thực và tiếp tế của nghĩa quân.
Năm 1888, Pháp điều lực lượng ngụy binh do Hoàng Cao Khải chỉ huy bao vây căn cứ. Sau một thời gian cầm cự, những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa quyết định cho một bộ phận vượt vòng vây (trong đó có Nguyễn Thiện Thuật). Các lực lượng còn lại chuyển địa bàn để tiếp tục chiến đấu.
Nguyễn Thiện Thuật lánh sang Trung Quốc rồi mất ở Nam Ninh (Trung Quốc) vào năm 1926, thọ 82 tuổi.
Sau khi Nguyễn Thiện Thuật lánh sang Trung Quốc, một số thủ lĩnh nghĩa quân phải ra hàng (Đốc Tít, Nguyễn Thiện Kế…)
Tháng 5 -1889, một số bộ tướng của Nguyễn Thiện Thuật phải ra hàng trước kia lại quay trở về khôi phục lực lượng. Trong 2 năm (1889 - 1890) họ kiên trì xây dựng lại đội ngũ và liên tục tấn công các đoàn xe quân sự, hậu cần tiếp tế và các đồn binh của Pháp. Sau đó, một số thủ lĩnh hy sinh trong lúc chiến đấu (Đội Văn, Tạ Hiện) nên từ năm 1891 nghĩa quân phân thành 2 bộ phận - một hoạt động ở vùng đồng bằng và một hoạt động ở vùng núi.
Đến năm 1892, thủ lĩnh bộ phận vùng núi là Lưu Kỳ hy sinh và thủ lĩnh vùng đồng bằng (Đốc Vinh) cũng bị giặc giết. Như vậy, thời điểm những thủ lĩnh cuối cùng của Bãi Sậy hy sinh cũng đã lúc kết thúc khởi nghĩa Bãi Sậy.
3.Khởi nghĩa Ba Đình (1886 - 1887)

Công sự Ba Đình
Xây dựng ở 3 làng Mỹ Khê, Thượng Thọ và Mậu Thịnh thuộc huyện Nga Sơn, Thanh Hóa (ở vùng chiêm trũng). Vị trí Ba Đình có ý nghĩa chiến lược quan trọng: khống chế đường giao thông huyết mạch nối Bắc kỳ và Trung kỳ, khống chế con sông đào Ninh Bình. Từ tháng 6 đến tháng 12 hằng năm cả Ba Đình ngập trong mùa nước nổi, chỉ còn lại một con đường độc đạo và khu căn cứ. Lợi dụng địa hình đó, nghĩa quân đã biến Ba Đình thành một căn cứ chống Pháp khá độc đáo.
Thành Ba Đình được xây dựng lên bằng những sọt tre đựng bùn nhồi rơm rạ, dày từ 8 - 10 mét. Toàn khu căn cứ được rào kín bằng những lũy tre xanh, bên trong là hào sâu có cắm chông… Nhìn từ xa đến, cứ điểm Ba Đình trông giống như một con nhím khổng lồi nổi lên mặt nước. Căn cứ Ba Đình là một căn cứ kháng chiến lớn nhất ở Bắc kỳ lúc bấy giờ.
Đứng đầu căn cứ Ba Đình là Phạm Bành, một quan lại theo phái chủ chiến đã từ quan về mưu tính việc cứu nước. Ông là người được nghĩa quân cử ra đứng đầu căn cứ, nhưng người chỉ huy chiến đấu trực tiếp là Đinh Công Tráng.
Đinh Công Tráng là một dũng tướng mưu lược, đã từng ở trong quân đội của Hoàng Tá Viêm, từng chiến đấu bên cạnh Lưu Vĩnh Phúc chống Pháp ở Bắc kỳ.
Ngoài căn cứ Ba Đình, dựa vào sự ủng hộ của đồng bào Mường do thủ lĩnh Hà Văn Mao đứng đầu, nghĩa quân còn có một căn cứ phụ ở Mã Cao (thuộc huyện Yên Định) để dành làm trỗ trú quân khi căn cứ chính bị vây hãm.
Tháng 12-1886, thực dân Pháp mở cuộc tấn công đầu tiên vào căn cứ Ba Đình với 500 quân, có đại bác yểm trợ, do 2 viên trung tá chỉ huy. Nhưng kết quả là địch đã bị đánh bật ra khỏi căn cứ, bỏ lại nhiều xác lính và vũ khí.
Đầu tháng 1-1887, thực dân Pháp mở tiếp cuộc tấn công với quy rất mô lớn. Huy động 3.500 quân, tâm phá tan căn cứ Ba Đình. Cuộc tấn công mạnh mẽ này của thực dân Pháp 5.000 dân binh phục vụ chiến đấu, 25 đại bác, 4 pháo hạm hỗ trợ, do đại tá Bờrixtô chỉ huy, với quyết cũng không đem lại kết quả, Hàng trăm binh lính và sĩ quan Pháp phơi xác trước thành Ba Đình. Trận thua nặng nề này của quân Pháp đã làm chấn động dư luận ở Paris.
Không thắng được, Pháp phải thay đổi kế hoạch, chuyển sang chiến thuật vây lấn hòng làm cạn lương thực của nghĩa quân. Cuối tháng 7-1887, quân Pháp liên tiếp mở những cuộc tấn công quyết định. Chúng dội xuống khu căn cứ tới 16 ngàn trái đạn pháo, dùng súng phun lửa đốt cháy lũy tre bao bọc căn cứ. Cả căn cứ Ba Đình ở vào tình thế nguy khốn. Đinh Công Tráng phối hợp với lực lượng của Trần Xuân Soạn ở ngoài mở đường máu cho nghĩa quân rút khỏi Ba Đình đi về căn cứ phụ Mã Cao. Khi quân Pháp tràn được vào thì toàn căn cứ trống không, chúng cho san phẳng và xóa tên cả 3 làng.
Đầu tháng 2-1887, quân Pháp truy kích đến Mã Cao. Sau 10 ngày chiến đấu thì căn cứ này cũng bị vỡ. Các thủ lĩnh của nghĩa quân người hy sinh trong lúc chiến đấu (Đinh Công Tráng), người bị bắt và bị giết hại (Hoàng Bật Đạt), người phải chạy sang Trung Quốc (Trần Xuân Soạn), người tự sát để khỏi rơi vào tay giặc (Phạm Bành, Hà Văn Mao)…
Nhưng ngọn lửa Ba Đình vẫn không tắt. Phong trào kháng Pháp của nhân dân Thanh Hóa lại bùng lên với cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh.

Phụ nữ nông dân bị bắt trong khởi nghĩa Ba Đình

Nghĩa quân Ba Đình bị bắt
4. Khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1886 - 1892)
Hùng Lĩnh là tên một địa phương thuộc huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa.
Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh là Tống Duy Tân và kéo dài đến 6 năm (1886 - 1892).
§ Tống Duy Tân là một nhà khoa bảng lớn, đã từng bỏ ấn từ quan trước thái độ hèn nhát đầu hàng Pháp của triều đình nhà Nguyễn. Về Thanh Hóa ông dạy học và mưu tính việc cứu nước. Khi Tôn Thất Thuyết nắm binh quyền liền đưa ông trở lại triều đình tham gia chính sự. Khi chiếu Cần Vương ban ra, ông được vua Hàm Nghi phong làm Chánh sứ sơn phòng Thanh Hóa.
+Khi khởi nghĩa Ba Đình thất bại, để thoát khỏi sự truy lùng của Pháp, Tống Duy Tân lánh đi một thời gian. Sau đó về lại Thanh Hóa tập hợp những người yêu nước cũ còn lại như Cao Điển, Tôn Thất Hàm, Cầm Bá Thước… xây dựng lại lực lượng
+Nghĩa quân Hùng Lĩnh được tổ chức rất cơ động, mỗi huyện đều có một cơ lính từ 200 người trở lên và lấy tên huyện để gọi, ví dụ như Tống Thanh cơ (Tống Sơn - Thanh Hóa), Nông Thanh cơ (Nông Cống - Thanh Hóa)… Lãnh đạo nghĩa quân còn chủ động đặt mối liên hệ với nghĩa quân ở một số nơi khác như: nghĩa quân hạ lưu sông Hồng, nghĩa quân Hương Khê.
Trong những năm 1889 - 1891, nghĩa quân Hùng Lĩnh đã chiến thắng nhiều trận, chủ yếu là phục kích đánh địch trên đường hành quân hoặc chống càn; thỉnh thoảng nghĩa quân cũng đánh một vài trận tập kích như trận đánh vào huyện lỵ Nông Cống, Vĩnh Lộc (1890).
+Tháng 5-1892, nghĩa quân Hùng Lĩnh phối hợp với nghĩa quân sông Đà (do Đốc Ngữ chỉ huy) chiến đấu với quân Pháp do Pennơcanh chỉ huy ở Niên Kỷ và giành thắng lợi lớn.
Sau đó, Pháp tăng cường tấn công càn quét vào căn cứ, Tống Duy Tân lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu cầm cự được một thời gian nữa. Đến tháng 9-1892, nhận thấy hết phương duy trì cuộc chiến đấu, Tống Duy Tân cho hội quân lại nói rõ tình hình và tuyên bố giải tán quân sĩ, khuyên mọi người trở về quê quán làm ăn, chờ thời cơ và không được cộng tác với giặc. Tống Duy Tân cùng Cao Điển và một số nghĩa quân còn lại trú quân trong một hang núi ở Niên Kỷ (nay thuộc huyện Bá Thước).
+Ngày 3-10-1892, tên việt gian Cao Ngọc Lễ (vốn là học trò cũ của Tống Duy Tân) chỉ điểm cho quân Pháp đánh lên Niên Kỷ hòng bắt Cao Điển và Tống Duy Tân. Trong trận đánh trả dữ dội đó, Cao Điển thoát được ra ngoài (đến hơn 3 năm sau, ngày 6-1-1896 thì bị quân Pháp bắt ở Bắc Giang). Ngày 4-10-1892, Tống Duy Tân bị địch bắt. Pháp cho đóng cũi nhốt ông chở về thị xã Thanh Hóa để mua chuộc. Trong cũi tù ông vẫn ung dung làm thơ. Thất bại trong âm mưu mua chuộc, thực dân Pháp đưa Tống Duy Tân ra chém tại thị xã Thanh Hóa ngày 15-10-1892.
Đến đây, cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh coi như kết thúc.
5.Khởi nghĩa Hương Khê (1885 - 1896)

Lược đồ khởi nghĩa Hương Khê
Đây là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất của phong trào Cần Vương, kéo dài 12 năm. Linh hồn của khởi nghĩa Hương Khê là Phan Đình Phùng.
Phan Đình Phùng (1847 - 1895), người làng Đông Thái (nay là xã Đức Phong), huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi đỗ Tiến sĩ (1877) ông được cử làm Tri huyện Yên Khánh (Ninh Bình), sau đó về Huế làm chức Ngự sử. Năm 1883, vì tính khảng khái và cương trực, ông phản đối việc Tôn Thất Thuyết phế bỏ vua Dục Đức lập Hiệp Hòa nên bị cách chức. Năm 1885, khi chiếu Cần Vương ban ra, ông là một trong những người đầu tiên hăng hái hưởng ứng. Ông được giao giữ chức Hiệp thống Quân vụ, lãnh đạo phong trào Cần Vương ở địa bàn 4 tỉnh Bắc Trung kỳ.
Bên cạnh Phan Đình Phùng là Cao Thắng (cũng là trụ cột của cuộc khởi nghĩa) và hàng loạt các tướng lĩnh khác như hai anh em Nguyễn Trạch - Nguyễn Chanh, Phan Đình Phong, Phan Đình Can, Cao Đạt, Lê Văn Tạc, Hiệp Tuấn, Nguyễn Mục, Đề Niêu, Đề Vinh, Đề Đạt… phần lớn đều xuất thân từ những tầng lớp lao động nghèo khổ.
Ngay từ buổi đầu kháng chiến, Phan Đình Phùng đã hiểu rõ: muốn thắng giặc Pháp cần phải có vũ khí hiện đại và sức mạnh toàn dân. Ông giao cho Cao Thắng ở lại xây dựng phong trào ở Nghệ An - Hà Tĩnh, còn bản thân ông ra Bắc vận động thống nhất lực lượng yêu nước chống Pháp. Năm 1886, ông trở về và bắt đầu phát triển nghĩa quân hoạt động mạnh.
Cao Thắng (1864 - 1893), người xã Tuần Lễ, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Ông nổi tiếng đặc biệt với tài tổ chức chế tạo vũ khí, sản xuất đạn dược. Ông đứng ra chỉ huy cho nghĩa quân chế tạo ra cả súng trường theo mẫu năm 1874 của quân Pháp. Súng trường của Cao Thắng đã gây nên nỗi kinh hoàng cho giặc Pháp. Cao Thắng được coi là ông tổ của ngành quân giới nước ta.
Cách bố trí lực lượng của Phan Đình Phùng rất độc đáo. Ông chia nghĩa quân trên địa bàn 4 tỉnh thành những quân thứ, mỗi quân thứ có từ 100 - 500 nghĩa binh. Tổng cộng toàn bộ có 15 quân thứ, được giao cho những bộ tướng có năng lực và uy tín chỉ huy. Ngoài đại bản doanh ở vùng núi Vụ Quang, còn có các căn cứ ở Cồn Chùa, Thượng Bồng, Hạ Bồng, Trùng Khê, Trì Khê, tạo thành một hệ thống vừa khép kín, vừa mở để nghĩa quân dễ hoạt động.
Từ năm 1886, nghĩa quân Hương Khê bắt đầu những trận đánh lớn. Khởi đầu, Phan Đình Phùng cho mở nhiều cuộc tiến công có hiệu quả vào các đồn địch ở Đô Lương, Anh Sơn, La Sơn, Linh Cảm…
Ngày 21-11-1893, trong trận tiến công đồn Nu (huyện Thanh Chương - Nghệ An) Cao Thắng bị trúng đạn bị trúng đạn hy sinh. Năm ấy Cao Thắng chỉ mới vừa tròn 29 tuổi.
Sau khi Cao Thắng mất, nghĩa quân Hương Khê cũng đã tổ chức nhiều trận đánh lớn, trong đó nổi tiếng nhất là trận Vụ Quang (tháng 10-1894).
Tháng 10-1894, biết được Phan Đình Phùng cùng đại bộ phận lực lượng đóng ở Vụ Quang, Pháp cho mở cuộc tập kích nhằm tiêu diệt toàn bộ lực lượng. Được báo trước, Phan Đình Phùng cùng các tướng lĩnh sắp sẵn trận địa để đối phó. Lợi dụng thế nước con sông Vụ Quang chảy xiết qua trước mặt khu trại, Phan Đình Phùng cho quân chặt cây to làm bè chặn nước và chặt gỗ thành từng khúc thả sẵn trên nguồn. Địch đến, thấy nước sông cạn, chúng đổ bộ tràn qua. Chờ lúc đại bộ phận quân địch đến giữa lòng sông, Phan Đình Phùng ra lệnh phá kè trên nguồn, nước bị chặn lâu ngày ầm ầm đổ xuống kéo theo những thân gỗ to. Quân địch, phần bị nước cuốn bất ngờ, phần bị gỗ lao vào người, phần bị nghĩa quân mai phục hai bên bờ bắn xối xả, nên bị chết rất nhiều. Địch thất bại nặng nề, số sống sót còn lại buộc phải tháo chạy ra khỏi Vụ Quang.
Thực dân Pháp sai Hoàng Cao Khải đưa thư dụ hàng Phan Đình Phùng, nhưng ông cương quyết cự tuyệt. Biết không lay chuyển được ý chiến sắt đá của ông, Pháp huy động một lực lượng lớn gồm 3.000 lính khố xanh, bao vây khống chế khu căn cứ. Sau thời gian bị bao vây, nghĩa quân bị lâm vào tình thế khó khăn: vũ khí thiếu thốn, lương thực cạn, quân số hao hụt, các tướng lĩnh chỉ huy người hy sinh, người sa vào tay giặc… Đang lúc nghĩa quân gặp nguy khốn thì Phan Đình Phùng bị trọng thương trong khi chỉ huy chiến đấu. Ông qua đời vào ngày 28-12-1895 tại núi Quạt, thọ 49 tuổi.
10 ngày sau khi Phan Đình Phùng tạ thế, địch tràn được vào căn cứ của nghĩa quân. Vì muốn trả thù người anh hùng, giặc cho đào mộ lấy thi hài Phan Đình Phùng đốt ra tro rồi trộn với thuốc súng bắn xuống sông La Giang. Chúng muốn xóa hết di tích của vị anh hùng dân tộc.
Khởi nghĩa Hương Khê, cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất của phong trào Cần Vương, sau 10 năm đến đây chấm dứt.
Cuộc Khởi nghĩa Hương Khê kết thúc đồng thời cũng chấm dứt luôn phong trào của văn thân, sĩ phu hưởng ứng chiếu Cần Vương.

Lược đồ địa bàn hoạt động của nghĩa quân Hương Khê
* Nhận xét:
- Phong trào Cần Vương bùng lên trước hết do sự phân hóa về chính trị trong nội bộ triều đình nhà Nguyễn, nhưng sau đó đã nhanh chóng trở thành một phong trào kháng chiến rộng rãi của nhân dân Trung kỳ và Bắc kỳ nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc.
- Phong trào Cần Vương cho thấy ý thức hệ phong kiến vẫn còn giữ vai trò chủ đạo trong đường lối kháng chiến chống Pháp cuối thế kỷ XIX.
· Ngọn cờ chính nghĩa Cần Vương vẫn còn phải cần để thổi bùng lên phong trào khởi nghĩa.
· Đường lối quân sự cũng dựa trên chiến lược, chiến thuật tiến hành chiến tranh theo hệ phong kiến (xây dựng căn cứ thủ hiểm, vũ khí thô sơ).
- Thực chất của phong trào Cần Vương không phải chỉ ở mục tiêu giúp vua mà chính là một phong trào yêu nước dưới sự tham gia của nhiều tầng lớp nhân dân, nhiều dân tộc trên một địa bàn rộng lớn của nhiều tỉnh Trung kỳ và Bắc kỳ.
- Vì sao phong trào Cần Vương phải thất bại?
· Khách quan:
Phong trào diễn ra vào lúc Pháp đã củng cố bước đầu bộ máy thống trị của chúng, đã sử dụng được lực lượng ngụy binh và hệ thống tay sai chỉ điểm lợi hại.
· Chủ quan:
Phong trào chưa có được một bộ chỉ huy thống nhất, tuy rằng các thủ lĩnh có ý thức liên kết với nhau, nhưng trong thực tế mối liên kết chưa được thực hiện đúng mức và bản thân mỗi cuộc khởi nghĩa đều chọn đường lối kháng chiến là xây dựng căn cứ thủ hiểm.
TÓM LẠI
Sau khi thực dân Pháp chiếm được toàn bộ lãnh thổ Việt Nam thì cũng từ năm 1885 đến 1897 những cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp vẫn dấy lên để giành lại chủ quyền dân tộc vừa bị mất. Có cả một triều đình kháng chiến được hình thành. Vua Hàm Nghi và Thượng thư Bộ binh Tôn Thất Thuyết đã cố gắng phất lên lá cờ “Cần Vương” chống xâm lược. Các “chiếu Cần Vương” của Hàm Nghi - Tôn Thất Thuyết đã tạo ra danh chính ngôn thuận cho sĩ dân trong nước đứng lên kháng chiến. Có cả một lớp sĩ phu văn thân yêu nước đứng về phía nhân dân tụ nghĩa đánh giặc cứu nước như: Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân, Phạm Bành, Đinh Công tráng, Nguyễn Thiện Thuật… Những thế trận thủ hiểm nổi tiếng đã được xây dựng ở Bãi Sậy, Ba Đình, Hùng Lĩnh, Hương Khê… lại có lớp lớp nghĩa quân chiến đấu ngoan cường dưới tài trí của thủ lĩnh nông dân Hoàng Hoa Thám danh tiếng một thời khắp 4 tổng vùng Nhã Nam, Yên Thế.
Song cuối cùng phong trào Cần Vương và tất cả cuộc khởi nghĩa vũ trang cuối thế kỷ XIX, vẫn bị thất bại. Sự thất bại ấy trước hết nó đã bị giai cấp thống trị mà tiêu biểu là triều đình Huế bỏ rơi, sau đó và cùng với quá trình đó, nó bị thực dân Pháp cấu kết với phong kiến tay sai kiên quyết bình định tiêu diệt dần từng cuộc khởi nghĩa một. Mặt khác phong trào chỉ có thể phát triển trong khuôn khổ đường lối chính trị và đường lối quân sự kiểu phong kiến lạc hậu, do đó mặc dù không thiếu sự dũng cảm ngoan cường và mưu trí sáng tạo, Quần chúng đông đảo rất căm thù bọn cướp nước và bán nước, nhưng họ không thể giành được thắng lợi.
Như vậy, cuối thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh yêu nước chống xâm lăng của dân tộc cuối cùng đã thất bại trước cuộc vũ trang xâm lược của thực dân Pháp. Sự thất bại ấy không phải do thiếu tinh thần và lực lượng, mà là không có người tổ chức lãnh đạo. Triều đình nhà Nguyễn và giai cấp phong kiến thống trị có trách nhiệm lớn trong việc để mất nước ta nửa cuối thế kỷ XIX, nhưng họ đã tự tước bỏ vai trò và nhiệm vụ lịch sử của mình. Trong lúc đó xã hội vẫn chưa xuất hiện một tầng lớp, giai cấp mới nào có thể giương lên ngọn cờ dân tộc. Điều ấy phản ánh sự trì trệ của xã hội phong kiến thời Nguyễn. Mặc dù nền kinh tế - văn hóa - xã hội vẫn ì ạch lăn chuyển và được điểm xuyết một vài tiến bộ, nhưng tất cả chưa đủ sức sản sinh từ trong lòng xã hội cũ, những nhân tố mới của một xã hội tương lai, trong lúc thế giới bên ngoài cứ ầm ầm chuyển động.
Với việc mất nước ta nửa thế kỷ XIX, nhiệm vụ lịch sử của dân tộc đã chuyển dần từ vấn đề phá vỡ sự trì trệ phong kiến, tự cường dân tộc, tiến lên con đường tư bản, sang vấn đề thích ứng với tình hình nền độc lập chủ quyền của quốc gia đang bị mất bởi chủ nghĩa thực dân Pháp. Nhiệm vụ nóng bỏng của dân tộc khi bước vào thế kỷ XX là: phải cứu giang sơn đang chìm đắm trong nô lệ của ngoại bang, phải giành lại Độc lập - Tự do - Hòa bình - Thống nhất cho tổ quốc, đưa đất nước tiến lên con đường phát triển và hội nhập vào thế giới hiện đại.
Muốn vậy cần có những thế hệ mới - thế hệ biết suy nghĩ và hành động theo yêu cầu nhiệm vụ lịch sử. Phải có giai cấp mới tiên tiến có đường lối tập họp lực lượng của toàn thể dân tộc, giương lên ngọn cờ đấu tranh cho tự do độc lập thực sự của dân tộc, kiên quyết đấu tranh để lật đổ tất cả ách thống trị áp bức của thực dân, đế quốc và phong kiến tay sai của chúng, giành chính quyền về tay nhân dân. Trong thực tế những năm đầu thế kỷ XX, từ sự chuyển biến chung của nền kinh tế - xã hội, đã và đang xuất hiện dần nhiều nhân tố mới, khả dĩ đáp ứng được những yêu cầu ấy của phong trào dân tộc.
Đoàn thị Hồng Điệp sưu tầm và tổng hợp
Đoàn Thị Hồng Điệp @ 10:32 16/05/2010
Số lượt xem: 36746
- Cuộc phản công của Tôn thất Thuyết và cuộc xuất bôn của Vua Hàm Nghi (12/05/10)
- Đợt khai thác thuộc địa lần thứ hai (12/05/10)
- Pháp đánh chiếm các tỉnh thành Bắc kỳ lần thứ nhất 1873. (10/05/10)
- Thực dân Pháp đánh chiếm kinh thành Huế (1883 - 1884) (09/05/10)
- Pháp đánh chiếm các tỉnh Bắc kỳ (1873 - 1883) (08/05/10)
Các ý kiến mới nhất