Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf Bai_ca_nguoi_giao_vien_nhan_dan.swf Clock_hoacucvang_thang111.swf MAIP1.swf

    Thành viên trực tuyến

    9 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Nhân vật lịch sử >

    Phan Huy Ích (1750 – 1822)

    Phan Huy Ích (1750 – 1822), quê làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ An, nay là xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh; Lúc nhỏ có tên Phan Công Huệ, do kiêng huý Đặng Thị Huệ mà đổi thành Huy Ích, tự là Khiêm Thụ Phủ, hiệu là Dụ Am. Ông là con trai đầu của Bình chương đô đốc Phan Huy Cận. Năm 1771, đỗ đầu khoa thi hương trường thi Nghệ An. Năm 1775, đỗ đầu khoa thi hội, được bổ làm Hàn lâm thừa chỉ, rồi làm Đốc đồng tỉnh Thanh Hóa, trông coi việc an ninh. Năm 1777, ông được lệnh mang ấn kiếm, sắc phong của chúa Trịnh ban cho Nguyễn Nhạc ở Quảng Nam. Sau đó, được thăng Hiến sát sứ Thanh Hóa, trông coi việc xét xử và luật pháp. Từ 1780, ông nhiều lần cáo bệnh xin từ quan nhưng không được.

    Cuối năm 1787, quân Tây Sơn ra Bắc Hà lần thứ hai. Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc cầu cứu. Phan Huy Ích bỏ lên Sài Sơn (Sơn Tây), chấm dứt 14 năm làm quan với chính quyền Lê-Trịnh. Tháng 5-1788, Nguyễn Huệ ra Bắc, xuống chiếu cầu hiền. Phan Huy Ích cùng Ngô Thì Nhậm, Đoàn Nguyên Tuấn, Nguyễn Thế Lịch ra hợp tác với Tây Sơn. Phan Huy Ích được phong làm Tả thị lang Bộ Hộ. Ông cùng với Ngô Thì Nhậm được giao xây dựng chính quyền Tây Sơn tại Bắc Hà.

    Mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789), cuộc hành quân thần tốc của Quang Trung quét sạch 29 vạn quân Thanh xâm lược. Sau đại thắng quân Thanh, ông phụ trách công việc ngoại giao. Cuối tháng 2-1790, Phan Huy Ích cùng với đại tư mã Ngô Văn Sở được cử trong phái đoàn do Phạm Công Trị đóng giả vua Quang Trung dẫn đầu sang Trung Quốc mừng vua Càn Long 80 tuổi. Chuyến đi đã thành công tốt đẹp.

    Năm 1792, về nước, được thăng Thị trung ngự sử ở tòa Nội các. Cũng trong năm này, vua Quang Trung mất. Ông cố gắng giúp đỡ vua trẻ Quang Toản, nhưng không ngăn nổi đà suy vi của Tây Sơn.

    Mùa hạ năm 1802, quân Nguyễn Ánh ra Bắc. Ông bị bắt cùng với Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thế Lịch, cả ba đều bị đánh đòn trước Văn Miếu. Sau khi được tha, ông về Sài Sơn sống ẩn dật, rồi về xứ Hà tĩnh mở trường dạy học. Theo các nhà nghiên cứu, trong thời gian này, ông hoàn thành bản dịch Chinh phụ ngâm (tác giả Đặng Trần Côn) mà người diễn Nôm đầu tiên là Đoàn Thị Điểm. Ông mất năm 1822 tại quê nhà.

    Từ điển bách khoa toàn thư mở 

    Phan Huy Ích lúc nhỏ tên là Phan Công Huệ, hiệu Dụ Am tự Khiêm thụ phủ, quê ở làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc (nay là xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh). Ông là con của Tiến sĩ Phan Huy Cận (1722-1789), là học trò và là con rể của Hội nguyên Hoàng giáp Ngô Thì Sỹ.

    Phan Huy Ích đỗ đầu khoa thi Hương trường Nghệ khoa Tân Mão (1771). Năm Quý Tỵ (1773), ông được bổ chức Tả Mạc xứ Sơn Nam. Năm Ất Mùi (1775), Phan Huy Ích lại đỗ đầu khoa thi Hội ở Thăng Long, tiếp đó đỗ chế khoa đồng tiến sĩ, được bổ làm Hàn lâm thừa chỉ ở phủ Chúa Trịnh.

    Năm Đinh Dậu (1777), ông được bổ Đốc đồng Thanh Hoa rồi về giữ chức Thiêm sai tri hình phiên ở phủ Chúa. Mùa thu năm ấy, ông được Chúa Trịnh Sâm sai vào Phú Xuân phong chức tước cho Tây Sơn Nguyễn Nhạc sau đó chúa Trịnh lại sai ông lên Nam Quan tiếp sứ thần nhà Thanh.

    Con đường công danh của Phan Huy Ích đang thuận lợi thì xảy ra vụ án Canh Tý (1780). Ngô Thì Nhậm phải trốn khỏi Thăng Long. Phan Huy Ích là em rể Ngô Thì Nhậm nên cũng bị hiềm nghi nhưng mùa thu năm Ất Tỵ (1785) ông vẫn được cử ra làm Đốc đồng Thanh Hoa.

    Năm Bính Ngọ (1786), Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc dưới khẩu hiệu “Phù Lê diệt Trịnh” sau khi ổn định Bắc Hà thì xuống chiếu cầu hiền. Ngô Thì Nhậm là người đầu tiên hưởng ứng rồi nhiều sĩ phu khác cũng đi theo tân triều.

    Tháng 11 năm Mậu Tý (1788), Lê Chiêu Thống theo chân Tôn Sỹ Nghị cùng 20 vạn quân xâm lược trở về. Phan Huy Ích và những người đi theo Tây Sơn đều bị đục tên trên bia tiến sĩ ở Văn Miếu và bị truy nã.

    Đầu xuân Kỷ Dậu (1789), quân Thanh bị Quang Trung đánh cho đại bại. Phan Huy Ích lại được triệu vời và cũng mùa thu năm ấy, ông nhận được lệnh lên Lạng Sơn đợi tiếp sứ Thanh. Năm Canh Tuất (1790), ông vâng mệnh sung vào sứ bộ đi Trung Quốc nhằm gây hòa hiếu giữa hai nước. Đoàn và sứ bộ gồm 150 người đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trong đó có sự đóng góp quan trọng của văn thần họ Phan.

    Từ năm Tân Hợi (1791) đến Nhâm Tý (1792) nhà họ Phan xảy ra nhiều biến cố, vợ ông mất và sau đó là vua Quang Trung băng hà. Nguyễn Quang Toản lên ngôi nhưng mọi việc đều do Thái sư Bùi Đắc Tuyên thâu tóm, trong thì triều đình chia rẽ, đại thần giết hại lẫn nhau, ngoài thì Nguyễn Ánh chờ cơ hội tiến công.

    Phan Huy Ích cũng như Ngô Thì Nhậm đều cảm thấy xót xa nhưng khó quên ơn tri ngộ của nhà Tây Sơn và trách nhiệm của kẻ nho thần, nên vẫn ở trong kinh lo việc từ hàn, làm văn, hoà giải.., và lo việc bang giao với các nước láng giềng.

    Tháng sáu năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Ánh chiếm Phú Xuân, quân Tây Sơn phải rút dần rồi tan rã. Cuối mùa hạ năm Nhâm Tý (1802), Phan Huy Ích bị bắt ở Bắc thành, đến tháng 2 năm Quý Hợi (1803) ông bị đánh đòn thị nhục ở Văn Miếu rồi được tha về ẩn ở Sài Sơn. Năm 1814, ông về quê Thiên Lộc dạy học, sau đó lại ra Sài Sơn an dưỡng và mất ở đó năm Nhâm Ngọ (1822).

    Là người có tài năng chính trị, văn chương và có tâm huyết, chính tích của Phan Huy Ích, nhát là công việc ngoại giao và từ hàn là đóng góp quan trọng, là chiến công của ông đối với triều đại Tây Sơn. Ngoài ra, ông còn là nhà trước tác lớn, có công lao đối với nền văn học, văn hoá dân tộc. Ông là tác giả của hàng loạt tác phẩm sử học, văn học tiêu biểu như: “Lịch triều điền cố”, “Dụ am văn tập”, “Nam trình tạp vịnh”, “Cẩm rình kỷ hứng”, “Cúc thu bách vịnh”.., dịch giả sách “Chinh phụ ngâm”.

    Hà Tĩnh Online


    Nhắn tin cho tác giả
    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 05:15 24/03/2011
    Số lượt xem: 1901
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến