Mấy giờ rồi nhỉ?

Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hỗ trợ trực tuyến

    • ( Gọi điện cho tôi)

      Nguyễn Lương Hùng
      ĐT:0974784299

      (
      )
    • (
      Đoàn Thị Hồng Điệp
      ( )

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    Thuong_ve_Mien_Trung.swf Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf Bai_ca_nguoi_giao_vien_nhan_dan.swf Clock_hoacucvang_thang111.swf MAIP1.swf 20_10_I.swf GiacmotruaTC1.swf

    Thành viên trực tuyến

    22 khách và 1 thành viên
  • Neel Bach
  • Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Lịch sử Việt Nam >

    Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) -phần 3

    chien_thang_chi_lang_-_xuong_giang_1427_500

    IX.VÂY HÃM THÀNH ĐÔNG QUAN VÀ CÁC THÀNH LUỸ KHÁC

    Song song với công việc xây dựng hậu phương, nghĩa quân tiếp tục đẩy nhanh cuộc đấu tranh với địch. Bước phát triển sáng tạo của cuộc đấu tranh trong giai đoạn từ sau chiến thắng Tốt Động, Chúc Động là kết hợp chặt chẽ giữa ba mặt: quân sự, địch vận và ngoại giao.

    Những cuộc tiến công của quân ta đã dồn địch vào tình thế cực kì nguy ngập. Chính trong cảnh "chí cùng lực tận (Bình Ngô đại cáo), Vương Thông phải ''sai người đưa thư xin hòa, mong được toàn quân trở về nước".

    Mục tiêu cao cả của khởi nghĩa Lam Sơn là đuổi giặc cứu nước, giành lại độc lập dân tộc. Mỗi khi quân địch đã chịu từ bỏ dã tâm xâm lược, xin rút quân về nước thì ta sẵn sàng mở đường cho chúng rút lui. Vì vậy, khi nhận được thư Vương Thông, Lê Lợi nói: ."Lời ấy cố nhiên hợp ý ta. Vả lại binh pháp nói: không đánh mà khuất được người, kế dùng binh như thế mới là giỏi''. Từ đó, bắt đầu mở ra cuộc đấu tranh hòa nghị với địch. Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi, đảm đương cuộc đấu tranh phức tạp này.

    Sau một thời gian thương lượng, hai bên đi đến một số kết quả bước đầu.

    Vương Thông cam kết rút hết quân về nước. Quân địch ở các thành sẽ được giải vây tập trung về Đông quan để về nước. Quân ta bảo đảm các điều kiện an toàn cho quân địch rút lui. Đối với triều đình nhà Minh, ta áp dụng một số sách lược mềm mỏng để khỏi mất thể diện của "thiên thầu" như lập con cháu nhà Trần làm vua, chịu cầu phong... Lê Lợi lập Trần Cảo, một người tự xưng là cháu ba đời vua Trần Nghệ Tông, lên làm  vua trên danh nghĩa, là vì mục đích này.

    Quân ta còn nới rộng vòng vây các thành, cho phép quân địch được vào mua bán. Trong những bức thư gửi cho Vương Thông, Nguyễn Trãi chỉ rõ, hòa nghị thành, chiến tranh kết thúc, điều đó có lợi cho nhân dân cả hai nước: "không những sinh linh nước tôi được khỏi lầm than, mà binh sĩ Trung Quốc cũng khỏi nỗi khổ gươm đao".

    Đầu năm 1427, nhà Minh đã quyết định điều quân sang tiếp viện cho Vương Thông. Vì vậy Vương Thông bề ngoài thì nói giảng hòa để làm kế hoãn binh, bên trong thì vẫn tiếp tục đào hào, đắp luỹ, cắm chông, lo cố thủ lâu dài. Hắn còn sai thám tử lén lút vượt biên giới mang thư bọc sáp về nước tâu báo tình hình và khẩn thiết xin quân cứu viện. Trước thái độ và hành động gian trá của địch, Lê Lợi ra lệnh thắt chặt vòng vây quanh thành Đông Quan. Quân ta mai phục, bắt sống hơn 3.000 quân địch và 500 con ngựa. Đầu năm l427, Lê Lợi dời đại bản doanh lên Bồ Đề (Gia Lâm, Hà Nội), đối diện với thành Đông Quan qua sông Nhị. Tại đây, Lê Lợi Nguyễn Trãi trực tiếp chỉ đạo việc vây hãm thành Đông Quan và cuộc đấu tranh vừa đánh vừa đàm với địch. Lê Lợi sai dựng một lầu cao ngang tháp Báo Thiên để quan sát tình hình địch ở trong thành.

    Bốn đạo quân Lam Sơn áp sát bốn cửa thành Đông Quan. Phía sau là ba trại quân đóng ở ba mặt: Cảo Động (Từ Liêm- Hà Nội) ở phía tây bắc, Sa Đôi (Từ Liêm- Hà Nội)  ở phía tây và Tây Phù Liệt ở phía nam. Phía đông bên kia sông Nhị, là một hệ thống chiến luỹ doanh trại của nghĩa quân, vừa bảo vệ đại bản doanh Bồ Đề, vừa ngăn chặn không cho quân địch liên hệ với các thành luỹ phía bắc.

    Tuy vậy, Lê Lợi, Nguyễn Trãi tiếp tục cuộc đấu tranh hòa nghị với địch. Thực chất đó là một cuộc đấu tranh chính trị và ngoại giao nhằm vạch trần bản chất phi nghĩa, ngoan cố của kẻ thù, vận động, thuyết phục chúng, đồng thời mở sẵn lối thoát cho triều Minh khi kết thúc chiến tranh. Đó là chủ trương mà trong bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trại gọi là: Ngã Mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất" (Ta mưu trí đánh dẹp bằng cách đánh vào lòng người, khiến không đánh mà quân giặc phải tự khuất phục). “Đánh vào lòng người" ở đây là đánh vào lòng giặc, là địch vận.

    Tuy nhiên, Vương Thông vẫn lợi dụng sơ hở của nghĩa quân, mở một số cuộc phản kích, cố tạo ra vài thắng lợi nhỏ rồi khuếch đại lên để mong giữ tinh thần quân lính.

    Ngày 4-3- 1427, Phương Chính tập kích doanh trại, Cảo Động

    Ngày 18 - 3- 1427, một toán quân lẻn ra đánh doanh trại Sa Đôi.

    Ngày 6 - 1427, Vương Thông tự đem một đội quân tinh nhuệ, bất ngờ tập kích doanh trại Tây Phù Liệt.

    Ngoài Đông quan, quân Minh còn chiếm giữ 12 thành: Thuận Hoá, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu, Tây Đô, Cổ Lộng, Điêu Diêu, Tam Giang, Thị Cầu, Xương Giang, Chí Linh, Khâu Ôn. Đối  với các thành luỹ này, chủ trương chung của nghĩa quân cũng là vừa vây hãm vừa dụ hàng, nghĩa là kết hợp tiến công quân sự với địch vận, được nâng lên thành thế trận chiến lược.

    Năm thành từ Thanh Hoá trở vào đã bị vây hãm từ năm 1425. Các thành ở phía bắc bắt đầu bị vây hãm vào khoảng cuối năm 1425 đầu năm 1426.

    Đối với quân Minh, Nguyễn Trãi chỉ rõ thế tất thắng của ta, thế thất bại của địch, vạch trần cái "bội ước thất tín của Vương Thông, cái "cơ táng loạn" của triều đình nhà Minh và khuyên bảo: Các ngươi nếu biết kéo quân ra thành cùng ta hòa hảo thân tình, thì ta coi các ngươi nghĩa như anh em ruột thịt, nào chỉ những bảo toàn tính mạng vợ con mà thôi đâu!”. Mặt khác, Nguyễn Trãi cũng nghiêm khắc cảnh cáo trước: "Nếu không thế, tuỳ các ngươi. Trong khoảng sớm tối sẽ khắc thấy nhau. Đến lúc bấy giờ, hối cũng không kịp”.

    Phương thức đấu tranh chung là vừa vây hãm, vừa dụ hàng, nhưng yêu cầu đối với từng loại thành có khác nhau.

    Trong số 12 thành, quân địch còn cố thủ, có những thành, nằm sâu trong hậu phương của ta, cách xa các đường tiếp viện của quân, Minh như thành Chí Linh, Cổ Lộng và các thành từ Thanh Hóa trở vào. Về mặt quân sự những thành này ở vào vị trí hoàn toàn bị cô lập và không thể tiếp ứng, phối hợp với viện binh địch. Nghĩa quân chủ trương kết hợp bao vây với địch vận, buộc quân địch trong các thành ấy phải đầu hàng.

    Đến đầu năm 1427, các thành Thuận Hóa, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu lần lượt đầu hàng. Chỉ còn Thành Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh, quân địch dù ngoan cố giữ thành, nhưng lực lượng càng ngày càng suy yếu, kiệt quệ và khi viện binh sang, không dám hành động gì.

    Những thành khác nằm trên hai trục đường tiếp viện của quân Minh đến Đông Quan. Đó là thành Tam Giang (Vĩnh Phúc và Phú Thọ) - trên trục đường Vân Nam – Đông Quan và các thành Khâu Ôn (Lạng Sơn), Xương Giang (Bắc Giang), Thị Cầu (Bắc Ninh), Điêu Diêu (Gia Lâm, Hà Nội) trên trục đường Quảng Tây - Đông Quan. Những thành này đóng vai trò như những nhịp cầu đón tiếp và dẫn dắt quân địch tiến vào Đông Quan. vì vậy, để triệt để cô lập Đông Quan và chuẩn bị chiến trường diệt viện, nghĩa quân chủ trương vừa vây hãm, vừa dụ hàng, nhưng nhất thiết phải xoá sạch trước khi viện binh sang. Trường hợp những thành ngoan cố không chịu đầu hàng thì kiên quyết tiến công hạ thành bằng sức mạnh quân sự.

    Kết quả là tháng 2 năm 1427 thành Điêu Diêu đầu hàng, tháng3 thành Thị Cầu đầu hàng, tháng 4 thành Tam Giang đầu hàng, chỉ có hai thành Khâu Ôn và Xương Giang nhất định không chịu ra hàng, quân địch liều chết cố thủ chờ viện binh.

     

    Khâu Ôn là một thành gần biên giới Quảng Tây. Thành đã bị quân ta do Trần Lựu và Lê Bôi chỉ huy, vây hãm từ cuối năm 1426. Tháng 2 năm 1427, quân ta mở cuộc tiến công hạ thành. Quân địch một số tháo chạy về Quảng Tây, một số bị tiêu diệt tại chỗ.

    Xương Giang là một thành luỹ vào loại kiên cố của quân Minh, lại ở vào một ví trí trọng yếu trên con đường Quảng Tây - Đông Quan.

    Cuối năm 1426, một lực lượng nghĩa quân khá mạnh do các tướng Lê Sát, Lý Triện, Nguyên Đình Lý, Lê Thụ, Lê Lãnh chỉ huy được lệnh tiến lên vây hãm thành Xương Giang. Nguyễn Trãi đã hai lần viết thư dụ hàng và cho Thái Phúc đến dưới chân thành khuyên bảo. Nhưng quân địch đưa vào kiến trúc phòng vệ chắc chắn, binh lực nhiều và lương thực dự trữ sẵn, kiên quyết cố thủ chờ viện binh.

    Tháng 9 năm 1427, Lê Lợi điều thêm quân và giao cho các tướng Trần Nguyên Hãn, Lê Sát, Nguyễn Đình Lý phải tổ chức công phá, gấp rút hạ thành Xương Giang. Ngày 28- 9- 1427, quân ta dùng thang đột nhập vào thành. Toàn bộ quân địch bị diệt và bị bắt sống. Bọn tướng Minh phải tự tử. Như vậy là cho đến trước khi viện binh sang, quân Minh ở nước ta chỉ còn giữ được bốn thành: Đông Quan, Chí Linh, Cổ Lộng, Tây Đô: Quân địch tuy liều chết cố thủ, nhưng sự vây hãm lâu ngày kết hợp với những đòn tiến công địch vận đã làm chúng rã rời, suy nhược, mất hết khả năng hành động phối hợp với viện binh. Cả đất nước đã được chuẩn bị sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu có ý nghĩa quyết định tiêu diệt viện binh của nhà Minh.
    khoi_nghia_lam_son_500_01
     

    X CHIẾN THẮNG CHI LĂNG-XƯƠNG GIANG (8-10 - 3-11-1427)

    luoc_do_tran_chi_lang_-_xuong_giang_thang_10_nam_1427__500 

    Chi Lăng - Xương Giang năm 1427

    l. Nhà Minh tăng viện

    Tháng 1 năm 1427, nhà Minh quyết định điều hai đạo viện binh sang cứu nguy cho Vương Thông.

    Đạo viện binh thứ nhất do An Viễn hầu Liễu Thăng làm tổng binh với chức Chinh lỗ phó tướng quân, từ Quảng Tây tiến sang. Trong bộ chỉ huy của Liễu Thăng, có Bảo Định bá Lương Minh làm tả phó tổng binh, đô đốc Thôi Tụ làm hữu tham tướng.

    Đạo viện binh thứ hai do Kiềm Quốc công Mộc Thạnh làm tổng binh với chức Chinh Nam tướng quân, tiến sang theo đường Vân Nam. Trong bộ chỉ huy của Mộc Thạnh, có An Hưng bá Từ Hạnh làm tả phó tổng binh, Tân Ninh bá Đàm Trung làm hữu phó tổng binh.

    Tổng số quân của hai đạo viện binh, theo sử ta, là 15 vạn quân và 3 vạn ngựa. Đạo quân Liễu Thăng gồm 10 vạn quân và 2 vạn ngựa. Đạo quân Mộc Thạnh gồm 5 vạn quân và 1 vạn ngựa.

    Trong bộ chỉ huy viện binh, vua Minh còn đặc biệt cử hai thượng thư đi theo làm tư vấn cho Liễu Thăng. Đó là thượng thư bộ binh Lý Thành giữ chức tham tán quân vụ, người mà vua Minh đã khen ngợi là lão thành và lịch luyện'', và thượng thư bộ công Hoàng Phúc, tên quan đô hộ cáo già đã từng sống lâu năm ở nước ta. Một lúc điều 15 vạn viện binh, lẫn tiếp viện lớn nhất trong 25 năm đô hộ của chúng, là một cố gắng chiến tranh rất lớn của nhà Minh. Cuộc chiến đấu tiêu diệt viện binh, đập tan cố gắng chiến tranh đó sẽ có ý định đoạt đối với sự nghiệp cứu nước của dân tộc ta.

    Khi nghe tin viện binh của địch sắp sang, một số tướng yêu cầu Lê Lợi cho họ đánh gấp thành Đông Quan "để tuyệt nội ứng", rồi tập trung lực lượng tiêu diệt viện binh. Một vấn đề có tầm quan trọng đến sự chỉ đạo chiến lược được đặt ra là: hạ thành trước hay diệt viện trước. Bộ chỉ huy nghĩa quân không chấp nhận đề nghị hạ thành trước, mà vẫn khẳng định chủ trương ''vây thành diệt viện". Lê Lợi đã phân tích tình hình một cách sâu sắc và giải thích chủ trương đó như sau: "Đánh thành là hạ sách. Ta đánh vào thành vững, hàng năm hàng tháng không hạ được, quân ta sức mỏi, khí nhụt. Nếu viện binh giặc lại đến trước mặt, sau lưng đều có giặc. Đó là con (đường nguy! Sao bằng dưỡng sức chứa uy để đợi viện binh giặc. Viện binh bị phá thì thành tất phải hàng. Thế là làm một mà được hai. Đấy là kế vạn toàn vậy".

    Như vậy là bộ chỉ huy tối cao kiên quyết giữ những chủ trương tiếp tục vây hãm thành Đông Quan; đồng thời tập trung một lực lượng cần thiết để chặn đánh tiêu diệt viện binh của địch. Sau khi viện binh đã bị diệt thì địch trong các thành tất nhiên phải đầu hàng, và dù cho có thành nào đó chúng ngoan cố chống cự thì quân ta cũng thừa sức để hạ thành.

    2. Kế hoạch diệt viện

    Để chuẩn bị diệt viện, trước hết quân ta khép chặt hơn nữa vòng vây thành Đông Quan. Một vài cứ điểm quân sự của địch ở phía ngoài thành đều bị đánh chiếm. Quân ta đắp thêm thành Cơ Xá ở phía đông, chiến luỹ Vạn Xuân ở phía nam để khống chế mọi hoạt động của địch. Lê Lợi hạ lệnh cho lực lượng nghĩa quân làm nhiệm vụ vây hãm Đông Quan ''canh giữ cho nghiêm, ngày đêm tuần xét''.

    Với chủ trương "vây thành diệt viện" thì chiến trường chủ yếu là miền núi rừng trên hai trục đường tiếp viện của quan Minh từ Quảng Tây và Vân Nam sang. ở đây, công việc chuẩn bị diệt viện cũng đã được xúc tiến khẩn trương.

    Nhưng đến nay, 15 vạn viện binh của địch chia làm hai đạo, theo hai đường tiến sang, thì một vấn đề cụ thể có ý nghĩa chiến lược quan trọng được đặt ra là chọn hướng chiến lược, xác định đối tượng quyết chiến chủ yếu như thế nào?

    Về đạo quân Mộc Thạnh, Lê Lợi đã đánh giá: "Mộc Thạnh tuổi già, trải việc

    đã nhiều, vốn đã nghe tiếng ta, tất ngồi xem Liễu Thăng thành bại chứ không dám khinh động''. Mộc Thạnh trước đây đã cầm quân cùng với Trương Phụ sang xâm lược nước ta và sau đó, hai lần đem quân sang tiếp viện, một lần bị đại bại ở Bô Cô năm 1408. Về chức và tước, Mộc Thánh cao hơn Liễu Thăng, nhưng chỉ thống lĩnh 5 vạn quân sang phối hợp với Liễu Thăng. Là một tướng già đã từng trải, Mộc Thạnh tỏ ra dè dặt và luôn luôn nghe ngóng, chờ xem đạo quân Liễu Thăng tiến quân thế nào rồi mới hành động.

    Đánh giá đúng vị trí của đạo quân Mộc Thạnh và nắm vững thái độ, tư tưởng của tên tướng chỉ huy, bộ chỉ huy nghĩa quân chỉ sử dụng một lực lượng cần thiết để kìm giữ chúng ở ải Lê Hoa. Tại đây, Lê Lợi phái các tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Lê Khuyển, Lê Trung đem quân lên tổ chức trận địa phòng ngư, làm nhiệm vụ kiềm chế. Quân ta được mật chỉ đặt phục binh để đợi, chớ vội giao chiến nghĩa là không tiến công, tránh giao tranh lớn, kiên trì mai phục và kiềm chế, chờ dịp đánh địch.

    Trên cơ sở nhận định trên, Lê Lợi đã bố trí lực lượng và chuẩn bị sẵn một thế trận đánh thắng hoàn toàn và tiêu diệt gọn quân Liễu Thăng trên đoạn đường tiến quân của địch từ Pha Luỹ đến Xương Giang.

    Tại Pha Lũy, tướng Trần Lựu được lệnh tổ chức những trận đánh nhử địch nhằm kích động tính chủ quan của Liễu Thăng và đẫn đắt chúng vào trận địa mai phục Chi Lăng. Các tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Lăng, Đinh Liệt, Lê Thụ, Phạm Văn Liêu đem 1 vạn quân tinh nhuệ và 5 voi chiến lên bố trí mai phục sẵn ở ải Chi Lăng. Các tướng Nguyễn Đình Lý, Lê Văn An đem 3 vạn quân lên tiếp ứng và bố trí những trận đánh phía dưới Chi Lăng. Tại Xương Giang, tướng Trần Nguyên Hãn gấp rút biến thành luỹ thành một chiến lũy kiên cố chặn đứng đường tiến quân của địch về Đông Quan. Một khối lượng lương thực lớn đã được tích trữ sẵn ở đây. Số quân địch còn lại sẽ bị vây hãm và tiêu diệt trước thành Xương Giang. Đó là điểm cuối cùng của chiến trường diệt viện.

    Ngoài quân đội Lam Sơn, lực lượng vũ trang của các làng xã cũng được huy động vào các trận đánh diệt viện.

    Tại dinh Bồ Đề, Lê Lợi, Nguyễn Trãi và bộ chỉ huy vừa chỉ đạo việc vây hãm thành Đông Quan, vừa chỉ đạo toàn bộ chiến dịch tiêu diệt viện binh. Một lực lượng dự bị mạnh có mặt ở đây để sẵn sàng tiếp ứng cho các mặt trận khi cần thiết.

    Khi viện binh của địch tiến vào biên giới nước ta cũng là lúc một thế trận đã bày sẵn để đợi chúng và quân dân ta đã đứng ở vị trí chiến đấu trong tư thế quyết chiến quyết thắng.

    3. Những trận nhử địch

    Ngày 8- l0- 1427, đạo quân Liễu Thăng tiến đến cửa ải Pha Luỹ ở vùng biên giới.

    Tướng Trần Lựu giữ cửa ải Pha Luỹ, theo kế hoạch đã định, vừa đánh vừa giả thua, rút về Khâu Ôn (Lạng Sơn). Liễu Thăng tung quân đuổi theo chiếm lấy Khâu Ôn. Tại đây, Liễu Thăng nhận được bức thư của Nguyễn Trãi. Trong thư, Nguyễn Trãi nhân danh Trần Cảo, dùng lời lẽ mềm mỏng xin Liễu Thăng đóng đại quân ở biên giới để "xét rõ sự tình thời thế" rồi "làm sớ tâu rõ công việc về triều đình" để "có thể ngồi yên mà hưởng thành công". Liễu Thăng càng kiêu căng, không thèm đọc thư, gửi thẳng về triều, rồi lập tức tiến quân.

    Trần Lựu lui về giữ, Ải Lưu (Chi Lăng, Lạng Sơn). Quân địch tiến đánh Ải Lưu, Trần Lựu lại rút về ải Chi Lăng.

    Những trận đánh nhử địch tài giỏi của Trần Lựu kết hợp với những bức thư "đánh vào lòng người" hết sức mưu trí của Nguyễn Trãi, đã làm cho Liễu Thăng và đạo quân 10 vạn của hắn tưởng là "đắc thắng" nhưng thực ra đã "thua kế'' quân ta.

    4. Trận Chi Lăng

    Ải Chi Lăng là cửa ải xung yếu nhất trên con đường từ Pha Lũy đến Đông Quan, cách Pha Luỹ khoảng 60 km. Toàn bộ ải Chi Lăng như một thung lũng nhỏ, hình bầu dục, dài khoảng 4 km theo hướng bắc-nam, chỗ rộng nhất ở giữa khoảng hơn 1km theo hướng đông-tây. Phía tây, vách núi đá vôi dựng đứng bên dòng sông Thương. Phía đông là dãy núi Thái Hòa và Bảo Đài trùng trùng điệp điệp. Lòng ải đã hẹp, lại có 5 ngọn núi đá nhỏ: Hàm Quỷ, Nà Nông, Nà Sản, Kì Lân, Mã Yên. Hai phía bắc và nam, mạch núi khép lại, tạo thành hai cửa ải hiểm trở. Ải Chi Lăng, với vị trí và địa thế của nó, đã bao lần là mồ chôn quân cướp nước từ phương Bắc xuống. Trong kháng chiến chống Tống đời Lý và chống Nguyên - Mông đời Trần, quân dân ta đã từng lợi dụng nơi đây để chặn đánh và tiêu diệt quân xâm lược. Bộ chỉ huy quân đội Lam Sơn đã cho Chi Lăng làm trận địa đánh đòn phủ đầu hết sức bất ngờ vào đạo vạn binh Liễu Thăng. Một vạn quân tinh nhuệ trong đó có 5 voi chiến, 100 ngựa, đã chiếm giữ các vị trí lợi hại, mai phục sẵn sàng đợi địch. Đó là tử trận "phục binh giữ hiểm, đập gãy tiền phong'' (Bình Ngô đại cáo).

    Tại Ải Lưu, Liễu Thăng "thừa thắng" đuổi theo quân ta chiếm luôn ải Chi Lăng. Trong hàng ngũ tướng giặc nhiều người lo ngại, sợ trúng kế quân ta, hết lời khuyên Liễu Thăng nên thận trọng. Tham tán quân vụ Lý Khánh đang ốm, cũng nương dậy can gián Liễu Thăng không nên khinh địch. Nhưng với  tính chủ quan, kiêu ngạo đã bị kích động cao độ, Liễu Thăng gạt bỏ mọi lời khuyên can, hạ lệnh tiếp tục tiến quân.

    Ngày 10- 10- 1427 (ngày 20-9 năm Đinh Mùi) Liễu Thăng đích thân dẫn hơn 100 quân kị mã xông lên trước đội quân tiên phong, hung hăng mở đường tiến vào Chi Lăng. Tướng Trần Lựu đã rút về Chi Lăng, lại đem quân ra đón đánh, rồi ''giả cách thua chạy''. Trên đoạn đường dài từ Pha Luỹ đến Chi Lăng, Liễu Thăng chỉ thấy đội quân Trần Lựu vừa đánh vừa chạy. Hắn càng tức tối, thúc quân đuổi sát theo Trần Lựu, lao thẳng vào trận địa mai phục của ta. Phía nam ải Chi Lăng có ngọn núi Mã Yên. Dưới chân núi là một cánh đồng lầy lơi có cầu bắc qua, Liễu Thăng và hơn 100 kị binh vừa qua cầu thì cầu bị sập. Đội quân tiên phong theo chủ tướng, chưa kịp qua cầu. Đội hình của địch bị chia cắt. Đúng lúc đó, phục binh của ta bốn bề nổi dậy, bất ngờ xông lên diệt địch. Hơn 100 kị binh của địch bị diệt gọn. Liễu Thăng bị trúng lao chết bên sườn núi Mã Yên. Tin chủ soái bị giết làm cho quân địch càng thêm hoảng loạn. Quân ta thừa thắng, chia cắt đội hình của địch ra tiêu diệt. Các đội dân binh của nhân dân địa phương cùng phối hợp chiến đấu có hiệu quả. Đặc biệt ''Đội tuần đinh tuần tráng'' của Lý Huề ở Đồng Mỏ đã đánh giặc rất dũng cảm và lập nhiều chiến công. Kết quả, tại Chi Lăng quân và dân ta dưới quyền chỉ huy của các tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Đinh Liệt, Trần Lựu... đã tiêu diệt hơn 1 vạn quân tiên phong của địch.

    5. Trận Cần Trạm

    Sau khi Liễu Thăng bị giết, phó tổng binh là Bảo Định Bá Lương Minh lên thay, cầm quyền chủ soái. Nguyễn Trãi lại viết thư cho Lương Minh khuyên nên lui quân. Nhưng còn 9 vạn quân trong tay, bọn tướng giặc vẫn còn ngoan cố, tiếp tục thực hiện mưu đồ xâm lược. Lương Minh cố gắng chấn chỉnh lại đội ngũ và ra lệnh tiến quân. Phía dưới Chi Lăng, các tướng Nguyễn Đình Lý, Lê Văn An đã đem 3 vạn quân lên bày sẵn một trận địa mai phục thứ hai ở Cần Trạm để đợi giặc.

    Cần Trạm (Lạng Giang, Bắc Giang) ở vào cuối dãy núi Bảo Đài, nơi tiếp giáp giữa vùng thượng du và trung du. Đây là một dịch trạm trên con đường Đông Quan - Pha Luỹ. Sau khi chiếm nước ta, quân Minh lập lên ở đây một đồn trại để bảo vệ dịch trạm và án ngự con đường giao thông huyết mạch nối liền với Trung Quốc. Di tích thành Cần Trạm hiện nay vẫn còn. Sau trận Chi Lăng, các tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú... rút quân ra khỏi ải, làm nhiêm vụ mới: bám sát địch, chờ thời cơ công kích vào phía sau đội hình quân địch.

    Ngày 15-10- 1427 (ngày 25- 9 năm Đinh Mùi), quân địch lọt vào trận địa mai phục ở Cần Trạm. Ba vạn phục binh của ta do tướng Nguyễn Đình Lý, Lê Văn An, chỉ huy, từ nhiều ngả xông lên đánh tạt ngang vào đội hình hành quân của địch. Cùng lúc, hơn 1 vạn quân của Lê Sát, Lui Nhân Chú v.v... đánh mạnh vào hậu quân địch. Chiến dịch xảy ra trên một quãng đường dài khoảng 5 km, dấu vết còn bảo tồn đến nay là những tên đất như Bãi Chiến, ở đông bắc thành Cần Trạm, Nghè Trận ở gần Kép... phó tổng binh Lương Minh mới lên nắm quyền chỉ huy được 5 ngày, lại bị trúng lao chết ngay tại trận. Khoảng hơn 1 vạn quân địch bị tiêu diệt. Quân ta thu được rất nhiều lương thực, vũ khí.

    6. Trận Phố Cát

    Sau Trận Cần Trạm, quân ta lại nhanh chóng, theo đường tắt, vận động về phía sau để tổ chức những trận đánh mới.

    Quân địch bị bồi thêm một đòn thất bại nặng nề. Lực lượng bị diệt chưa thật nhiều nhưng thế của địch bắt đầu suy sụp, chuyển sang chống đỡ một cách bị động. Đô đốc Thôi Tụ giữ chức hữu tham tướng, lên nắm quyền chỉ huy. Thôi Tụ cùng với thượng thư bộ binh Lý Khánh và thượng thư bộ công Hoàng Phúc, thu thập quân lính, cố gượng tiến về phía thành Xương Giang mà chúng tưởng đang ở trong tay quân Minh.

    Phía nam Cần Trạm là bước vào địa hình trung du, đồi núi thoai thoải và thưa dần. Đường hành quân của địch xuyên qua các thung lũng hẹp và dài, hai bên là đồi thấp và rừng thưa. Quân ta lợi dụng địa thế và đội hình hành quân kéo dài của 7-8 vạn quân địch, tổ chức những trận đánh vào cạnh sườn, nhất là vào đội quân lương đi sau của địch. Đó là lối đánh ''dùng kị binh chặn đường, cắt ngang lương đạo '' (Bình Ngô đại cáo).

    Ngày 18 tháng 10 (ngày 28- 9 năm Đinh Mùi), quân ta đánh một trận lớn ở Phố Cát (gần Phố Tráng, Lạng Giang, Bắc Giang). Đồi Mả Ngô còn như lưu lại dấu tích của trận đánh này.

    Những trận đánh liên tiếp như vậy làm cho quân địch bị tiêu diệt thêm khoảng 1 vạn quân và đặc biệt nguy hiểm là bị mất nhiều quân lương, vũ khí Quân ta "bắt được lừa, ngựa, trâu, quân nhu, khí giới không biết bao nhiêu mà kể".

    Sau trận Phố Cát, thượng thư bộ binh giữ chức tham tán quân vụ là Lý Khánh, phần vì ốm nặng, phần vì lo sợ và tuyệt vọng đã "kế cùng phải thắt cổ". Lại thêm một chủ tướng nữa bị chết. Chỉ sau l0 ngày (8 đến 18- l0- 1427) đặt chân lên đất nước ta, đạo viện binh chủ yếu của nhà Minh đã bị những tổn thất hết sức nặng nề. Nguyễn Trãi mô tả thế trận và những thắng lợi của ta trong Bình Ngô đại cáo như sau: "Ta đã chọn phục binh giữ hiểm, đập gẫy yên phong,

     Sau lại dùng kị binh chặn đường, cắt ngang lương đạo,

    Ngày mười tám, Liễu Thăng bị đánh, Chi Lãng trúng kế.

    Ngày hai mươi, Liễu Thăng bị bại, Mã Yên phơi thây.

    Ngày hai mươi lăm, tước Lương Minh trận hãm phải bỏ mình.

    Ngày hai mươi tám, thượng thư Lý Khánh kế cùng phải thất cổ"

    Quân địch đã bị tiêu diệt khoảng 3 vạn quân, các tướng chủ chốt lần lượt bị chết. Số quân còn khoảng 7 vạn, nhưng thế và lực đã hoàn toàn suy sụp. Từ tướng đến quân, đều hoang mang, tuyệt vọng.

    Nhưng đến gần Xương Giang, quân địch mới biết rằng thành này đã trở thành pháo đài sừng sững của quân ta, chặn ngang đường tiến quân của chúng. Phía sau, quân ta tiếp tục đuổi đánh. Tiến, thoái hết đường. Quan địch hết sức mệt mỏi, hoang mang. Thôi Tụ, Hoàng Phúc đành phải đóng quân giữa một cánh đồng trống trải cách thành Xương Giang khoảng 3 km về phía bắc.

    Đây là một vùng địa hình bằng phẳng với những quả đồi thấp và phần lớn là đồng ruộng, xóm làng của dân, nằm giữa sông Thương và sông Lục Nam. Quân địch phá nhà cửa của dân làm doanh trại và gấp rút đào hào, đắp lũy, tổ chức phòng ngự để lo đối phó với những cuộc tiến công của quân ta.

    7. Đánh tan quân Mộc Thạnh

    Theo hướng kiềm chế, Mộc Thạnh đang đóng quân ở vùng biên giới để chờ tin tức của Liễu Thăng. Tại ải Lê Hoa, quân ta do các tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Lê Trung chỉ huy, chiếm lĩnh những nơi yếu hại, bố trí mai phục để làm nhiệm vụ ngăn chặn địch và sẵn sàng tiến công khi thời cơ đến. Biết rõ thái độ dè dặt của Mộc Thạnh, Nguyễn Trãi gửi thư vạch rõ những thất bại, tổn hại nặng nề của quân Minh ở nước ta và dùng lời lẽ ôn tồn khuyên Mộc Thạnh xin triều đình bãi binh.

    Sau khi đã giam chặt số quân của Thôi Tụ, Hoàng Phúc ở Xương Giang, bộ chỉ huy nghĩa quân chủ trương phải kịp thời tổ chức tiến công đánh tan đạo quân Mộc Thạnh.

    Lê Lợi sai một tên chỉ huy, ba tên thiên hộ bắt được trong đạo quân Liễu Thăng, mang sắc thư, ấn tín của Liễu Thăng cùng một bức thư của Nguyễn Trãi, chuyển cho Mộc Thạnh. Trong thư, Nguyễn Trãi chủ yếu báo tin cho Mộc Thạnh biết sự thất bại thảm hại của Liễu Thăng vì "mạo hiểm tiến quân vào sâu, chuyên việc chém giết, định diệt hết không để sót người nào" nên "bị chết tại trận tiền, không biết lẫn lộn vào đâu" và "Bảo định bá, Thôi đô đốc, Lý thượng thư cũng nối nhau chết nốt".

    Đòn tiến công "đánh vào lòng người" đã có tác dụng lớn. Đọc thư, lại tận mắt nhìn thấy những chứng tích thất bại của Liễu Thăng, tướng Mộc Thạnh vô cùng khiếp sợ. Đang đêm, Mộc Thạnh vội vàng đem quân tháo chạy. Quân ta đã chuẩn bị sẵn sàng lập tức tung quân ra đuổi đánh. Mộc Thạnh dù tháo chạy, nhưng cũng phải đánh cho tan nát thì mới đè bẹp được ý chí xâm lược của quân thù.

    Quân ta thắng lớn ở Lãnh Câu và Đan Xá, giết chết hơn 1 vạn, bắt sống hơn 1.000 quân địch và thu được hơn 1.000 ngựa cùng rất nhiều vũ khí, lương thực, của báu.

    Nguyễn Trãi mô tả chiến thắng này trong Bình Ngô đại cáo:

    "Bị quân ta chẹn ở Lê Hoa, quân Vân Nam kinh sợ mà trước đã vỡ mật.

    Nghe quân Thăng thua ở Cần trạm, quân Mộcc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.

    Lãnh Câu máu chảy thắm dòng, nước sông ăm ức.

    Đan thây chồng thành núi, cỏ nội thẫm hồng".

    8. Trận Xương Giang kết thúc

    Tại mặt trận chính ở Xương Giang, vòng vây quân ta ngày càng khép chặt Nguyễn Trãi tiếp tục viết thư dụ hàng, khuyên Thôi Tụ, Hoàng Phúc nên ''lui quân ra ngoài bờ cõi". Như thế "bọn các ông có thể không mất tiếng tốt, mà Nam, Bắc từ nay vô sự. Đó không những là sự may cho nước An Nam tôi, cũng là sự may lớn cho cả bàn dân thiên hạ".

    Quân địch tuy khốn quẫn, nhưng với khối lượng 7 vạn quân, chúng vẫn co kéo dài thời gian cầm cự, nuôi hi vọng quân Đông Quan hay quân Vân Nam sẽ đến cứu nguy. Nguyễn Trãi biết rõ đều đó: “Chắc các ông sở dĩ ở chậm lại, có ý trông mong vào quân ở thành Đông Quan sang tiếp đúng chăng? Hay là quân ở Vân Nam sang tiếp ứng chăng?”. Nguyễn Trãi chỉ cho chúng biết ''Từ Đông Quan đến đây chỉ có một ngày đường, không phải hẹn còn có thể tự đến cứu được, há lại nỡ lòng nào dửng dưng ngồi nhìn không đau lòng hộ ư?". Còn quân Vân Nam thì "Kiềm đại nhân tuổi cao đức cả, đã sớm biết lẽ phải..., đã lui quân về Vân Nam rồi". Nguyễn Trãi hạn cho chúng trong ba ngày phải lui quân: "Các ông, hạn trong ba ngày, nên thu nhặt mà đi. Quá hạn ấy mà còn chậm lại, thế là các ông thất tín, không phải lỗi ở tôi vậy". Đó là bức thư cuối cùng, lời lẽ kiên quyết và có tính chất như một tối hậu thư.

    Sau khi đánh tan đạo quân Mộc Thạnh, bộ chỉ huy nghĩa quân tăng cường thêm lực lượng cho mặt trận Xương Giang và hạ lệnh gấp rút chuẩn bị tiêu diệt toàn bộ số quân địch còn lại, sớm kết thúc chiến tranh. Các tướng Lê Khôi, Nguyễn Xí, Phạm Vấn, Trương Lôi được lệnh đem thêm quân tinh nhuệ và voi chiến lên Xương Giang.

    Quân và dân ta đã sẵn sàng diệt giặc trong một thế trận mạnh hơn lúc nào hết. Đúng ngày 15 tháng 10 năm Đinh Mùi, tức ngày 3- 11- 1427, quân dân ta mở trận tổng công kích; từ bốn phía, hàng vạn quân bộ binh, kị binh, tượng binh, nhất loạt tiến công quyết liệt vào khu vực phòng ngự của địch.

    Một tiếng trống, sạch sanh kình ngạc,

    Hai tiếng trống, tan tác chim muông.

    Tan tổ kiến xoi, bám nơi dê vỡ,

    Nổi gió mạnh, trút sạch khô

    (Bình Ngô đại cáo)

    Số phận của quân địch được định đoạt nhanh chóng:

    "Đô đốc Thôi Tụ, quỳ gối chịu tội, Thượng thư Hoàng Phúc trói tay nộp mình".

    Thôi Tụ, Hoàng Phúc cùng với hơn 300 tướng địch và hơn l vạn quân bị bắt sống. Hơn 5 vạn quân bị giết chết tại trận. Một số trốn thoát, chạy tán loạn vào rừng, "trong khoang không đến năm ngày, những người chăn trâu, kiếm củi đều bắt được hết, không sót tên nào”. Sử triều Minh cũng phải ghi nhận, toàn bộ đạo viện binh Liễu Thăng đều bị giết và bị bắt hết, tuy chỉ có viên chủ sự Phan Hậu trốn thoát về nước. Quân ta thu được rất nhiều vũ khí, xe, ngựa, vàng bạc, vải, lụa. Như vậy là sau 27 ngày chiến đấu (từ 8 - 10 đến 3- 11- 1427), quân dân ta đã tiêu diệt 10 vạn viện binh của Liễu Thăng và đánh tan tác 5 vạn viện binh của Mộc Thạnh. Chiến thắng của chiến dịch diệt viện, thường gọi là chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang, thật hào hùng, oanh liệt.

    Chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang là thắng lợi oanh liệt của trận quyết chiến chiến lược có ý nghĩa định đoạt của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Bằng thắng lợi đó, quân dân ta đã đập tan một cố gắng chiến tranh lớn nhất của nhà Minh, buộc Vương Thông ở Đông Quan phải đầu hàng và triều đình nhà Minh ở Bắc Kinh phải từ bỏ mưu đồ xâm lược nước ta.

     

    Đinh ba, câu liêm (hiện vật phục chế) - vũ khí trong trận Chi Lăng - Xương Giang thời nhà Lê (thế kỷ 15)

    XI. VƯƠNG THÔNG RÚT QUÂN VỀ NƯỚC

    Trên đất nước ta, quân địch chỉ còn giữ được ba thành: Đông Quan, Cổ Lộng, Tây Đô. Chúng dám liều chết để cố thủ và chủ yếu chỉ hi vọng vào quân cứu viện của triều đình nhà Minh. Nay hai đạo viện binh bị tiêu diệt, niềm hi vọng của quân địch bị sụp đổ. Lê Lợi sai giải đô đốc Thôi Tụ, thượng thư Hoàng Phúc cùng một số tù binh mang theo chiếc song hổ phù của Liễu Thăng, hai ấn thượng thư bằng bạc của Lý Khánh, Hoàng Phúc và vũ khí, cờ trống của địch, đem đến thành Đông Quan cho Vương Thông và quân địch trong thành nhìn thấy thất bại thảm hại của viện binh. Đồng thời, Nguyễn Trãi viết thư nói rõ cho Vương Thông biết thất bại của Liễu Thăng. Bức thư cùng với nhân chứng, di vật rành rành đã gây chấn động mãnh liệt về tinh thần và tâm lí đối với quân địch. Từ tổng binh Vương Thông cho đến quân lính trong thành đều hết sức khiếp sợ.

    Sau khi diệt viện, quân ta có đủ điều kiện và khả năng để hạ thành. Nhưng chủ trương của Lê Lợi, Nguyễn Trãi là muốn tiếp tục vây hãm và kiên trì thuyết phục, buộc chúng phải đầu hàng. Như thế vừa bảo đảm giành hắng lợi trong điều kiện ít tổn hại xương máu nhất, vừa mở ra lối thoát hoặc chiến tranh với nhà Minh. Trong hàng ngũ tướng soái nghĩa quân lúc bấy giờ cũng có nhiều người căm ghét quân giặc tàn ngược, trí trá, khuyên Lê Lợi ''lấy binh mà đánh thắng ''bắt giết hết không tha''. Nhưng Lê Lợi và Nguyễn Trãi trước sau vẫn chủ trương cố gắng đến mức cao độ nhất, vừa uy hiếp vừa thuyết phục, buộc quân địch đầu hàng. Lê Lợi giải thích như sau: ''Việc dùng binh cốt lấy bảo toàn cả nước làm trên hết (toàn quốc vi thượng). Nay đã cho bợn Vương Thông trở về nới với vua Minh, trả lại đất đai cho ta, không xâm lấn bờ cõi ta, đó là điều ta không cần gì hơn thế nữa. Hà tất phải giết hết bọn chúng để gây oán với nước lớn làm gì''.

    Vương Thông đã lâm vào cảnh "kế cung, lực kiệt'', một mặt sai người mang thư ra ''xin giảng hòa, mở cho đường về". Nhưng mặt khác, Vương Thông vẫn còn ngoan cố, nghi ngại và hoảng sợ. Hắn liều lĩnh dốc hết quân trong thành, tự mình cầm quân, mở một  cuộc phản kích hòng phá vây về nước. Quân ta đã chuẩn bị sẵn sàng, nhử địch vào nơi mai phục, rồi đánh cho tan tác, Vương Thông ngã ngựa, suýt bị bắt sống. Quân ta đuổi đánh đến tận cửa Nam thành Đông Quan.

    Lê Lợi ra lệnh khép chặt vòng vây, tăng cường các trận địa bao vây quanh thành và cho quân đội áp sát các cửa thành. Quân ta đắp một chiến lũy án ngữ cửa Nam, chẹn lối ra vào của địch. Bản thân Lê Lợi đứng ra đốc thúc quân sĩ đắp một chiến lũy từ phường An Hoa đến thẳng cửa Bắc, chỉ trong một đêm là xong. Lê Lợi còn sai các tướng chuẩn bị sẵn mọi thứ vũ khí và phương tiện đánh thành, để trường hợp địch ngoan cố đến cùng thì quân ta sẽ kiên quyết hạ thành.

    Nguyễn Trãi đã viết 7 bức thư gửi cho Vương Thông. Nguyễn Trãi nhắc lại cái họa Liễu Thăng'' và chỉ rõ cho Vương Thông tình thế của chúng lúc này: "Nhà lớn gần xiêu, một cây gỗ khôn hay chống đỡ, đê dài sắp vỡ, một vốc đất khó thể chi trì. Nếu không biết lượng sức mà cứ cưỡng làm thì ít khi không thất bại'' Nguyễn Trãi đã bác bỏ mọi lí lẽ trì hoãn việc đầu hàng cửa quân Minh và phân tích một cách hết sức ôn tồn, có tình có lí để xóa bỏ những mối ngờ vực, lo lắng của Vương Thông.

    Ngày 10- 12- 1427 (ngày 22- 11 năm Đinh Mùa) tại một địa điểm ở phía nam thành Đông Quan, bên bờ sông Nha, một hội thề lịch sử đã được tổ chức, thường gọi là hội thề Đông Quan.Dự hội thề có phái đoàn quân ta do Lê Lợi cầm đầu và phái đoàn quân Minh do Vương Thông cầm đầu.Trong hội thề, Vương Thông cam kết rút hết quân về nước, không dáng ngoan cố chờ đợi viện binh và trên đường rút quân, không được cướp bóc nhân dân. Về phía ta, Lê Lợi bảo đảm tha cho quân địch được toàn tính mạng về nước và đối với triều Minh sẽ có biểu cầu phong.

    Sau hội thề, Lê Lợi ra lệnh giải vây cho các thành. Ngày 29- 12- 1427, quân Minh bắt đầu rút quân. Ngày 3- 1- 1428, đội bộ binh cuối cùng của Vương Thông lên đường về nước.

    Ta đã tha cho 10 vạn quân địch được an toàn trở về với quê hương xứ sở. Hơn thế nữa, Lê Lợi còn cấp cho 500 chiến thuyền, mấy nghìn con ngựa cùng với đầy đủ lương thực và sai sửa sang cầu cống, đường sá để cho chúng rút về nước. Quân Minh hết sức cảm động, kéo đến dinh Bồ Đề lạy tạ những người lãnh đạo đầy lòng khoan dung, nhân đạo của nghĩa quân Lam Sơn.

    Cuộc chiến tranh kết thúc bằng chiến thắng hào hùng của dân tộc ta và cuộc đầu hàng rút lui nhục nhã của quân thù:

    Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng,

    Tướng giặc bị bắt tù, xin thương hại vảy đuôi cầu sống.

     Uy thần chẳng giết hại, lấy khoan hồng thể bụng hiểu sinh,

    Bọn tham chính Phương Chính, nội quan Mã Kỳ được cấp năm trăm thuyền, đã vượt biển vẫn hồn kinh phách lạc.

    Lũ tổng binh Vương Thông, tham chính Mã Anh, được cấp cho mấy nghìn ngựa, đã về nước còn ngực đập chân run.

    Chúng sợ chết thèm sống mà thực lòng muốn cầu hòa,

    Ta lấy toàn quân làm cốt cho dân được yên nghỉ.

    Chẳng những mưu kế kì diệu

    Cũng là chưa thấy xưa nay”.

    (Bình Ngô đại cáo)

     (Theo Đại cương Lịch sử Việt Nam)

     

     

    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 10:20 10/03/2011
    Số lượt xem: 1952
    Số lượt thích: 0 người
     
     
     
    Gửi ý kiến
    print