Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    NoiNayCoAnhSonTungMTP4772041.mp3 Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf Bai_ca_nguoi_giao_vien_nhan_dan.swf Clock_hoacucvang_thang111.swf

    Thành viên trực tuyến

    25 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Lịch sử Việt Nam >

    Chính sách đô hộ của nhà Minh

    1.Tổ chức chính quyền đô hộ của nhà Minh
    Năm 1407, sau khi chiếm được Đông Đô, nhà Minh đã đổi nước ta làm quận Giao Chỉ, coi như địa phương quận huyện của Trung Quốc. Chúng lập chính quyền theo mô hình “chính quốc”.


    Đứng đầu quận Giao Chỉ là ba ti: đô chỉ huy sứ ti, hay gọi tắt là ti đô, phụ trách về quân chính; thừa tuyên bố chính sứ ti hay ti bố chính, trông coi về dân chính và tài chính; đề hình án sát sứ ti hay ti án sát, nắm quyền tư pháp và giám sát..
    Dưới quận, nhà Minh chia đặt lại các phủ, châu, huyện. Năm 1407, nhà Minh đặt 15 phủ gồm 36 châu, 181 huyện. Ngoài ra, còn 5 châu trực thuộc vào quận. Đó mới chỉ là sự phân chia khu vực hành chính trên bản đồ. Trong thực tế thì phải đến năm năm 1414 nhà Minh mới thiết lập được hệ thống chính quyền các cấp phủ, châu, huyện ở nước ta.


    Năm 1419, nhà Minh định tổ chức các lại các làng xã của ta, lập thành lý (110 hộ, do lý trưởng đứng đầu) và giáp (10 hộ do giáp thủ đứng đầu) như cơ cấu hành chính của nông thôn Trung Quốc. Riêng vùng kinh thành thì lập thành, phường và sương, tương đương như lý ở nông thôn. Chúng muốn phá huỷ kết cấu làng xã cổ truyền của ta, mở rộng chính quyền đô hộ đến tận đơn vị cơ sở để trực tiếp khống chế nhân dân ta. Nhưng các làng xã cổ truyền dựa trên kết cấu công xã nông thôn, vẫn tồn tại phổ biến và giữ được tính tự trị khá cao. Nhân dân ta đã dựa vào cơ sở làng xã này để tập hợp nhau lại, kết hợp cuộc đấu tranh giữ làng với cứu nước.


    Cùng với bộ máy hành chính, nhà Minh còn xây dựng một hệ thống thành luỹ và thiết lập một hệ thống vệ, sở dày đặc để chấn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ta. Trong năm 1407, chúng đã lập 14 vệ và 19 sở với tổng số quân giải ra đóng giữ là 99.280 quân (mỗi vệ có 5000 quan, mỗi sở có 1120 quân xung quanh thành Đông Quan đã có đến 5 vệ: tả, hữu, trung, tiền, hậu, với số quân phòng vệ là 28000 quân. Cùng với quá trình mở rộng phạm vi chiếm đóng bộ máy trấn áp lại tăng thêm riêng trong năm 1418, quân Minh lập thêm 111 sở. Số quân Minh có mặt thường xuyên ở nước ta là trên 10 vạn quân, không kể số quân tăng viện từ Trung Quốc sang mỗi khi cần thiết.


    Theo An Nam chí nguyên: “phàm những nơi có phủ, vệ, cùng những nơi yếu hại trong nước, đêu xây dựng thành luỹ kiên cố để phòng giữ lâu dài”. Chỉ tính những thành luỹ đã có đến 39. Vết tích của một số thành luỹ đó đến nay vẫn còn như: Thành Nghệ An (Hưng Nguyên- Nghệ An), thành Diễn Châu (Nghệ An), thành Cổ Lộng (Ý Yên- Nam Định), thành Điêu Diêu (Gia Lâm- Hà Nội), thành Xương Giang (thị xã Bắc Giang), thành Chi Lăng (Lạng Sơn)...


    2.Chính sách đô hộ tàn bạo


    Nhà Minh ra lệnh tước đoạt mọi thứ vũ khí trong tay nhân dân ta. Ai chế tạo, cấp giấu chiến thuyền, vũ khí dù là loại thô sơ nhất đều bị khép vào tội phản nghịch. Mỗi khi nhân dân ta phản kháng hay vùng lên khởi nghĩa thì lập tức chúng dùng vũ lực đàn áp khốc liệt với nhiều thủ đoạn man rợ. Quân giặc “ đi đến đâu chém giết thả cửa, hoặc chất thây người làm núi, hoặc rút ruột người quấn vào cây, hoặc rán thịt người lấy mỡ, hoặc làm nhục hình bào lạc để mua vui, thậm chí có người theo lệnh giặc, bổ bụng người có thai, cắt tay của mẹ và con để dâng cho giặc”. Những người sống sót thì “bị bắt hết làm nô tì và bị đem đi bán mà tan tác bốn phương”. Những người yêu nước bị quân Minh bắt, nếu không bị giết chết một cách tàn bạo, thì cũng bị đẩy sang Trung Quốc mà không mấy ai được trở về.


    Về phương diện kinh tế, nhà Minh đẩy mạnh việc vơ vét của cải và bóc lột nhân dân ta một cách tham tàn. Vừa chiếm được kinh thành nước ta, Trương Phụ đã cho quân lính mặc sức cướp phá và thu tiền đồng trở về nước. Mùa hạ năm 1408, sau hơn 1 năm xâm lươc và cướp bóc, số chiến lợi phẩm mà Trương Phụ tâu lên vua Minh gồm:
    - 235000 con voi, ngựa, trâu, bò.
    - 13600000 thạch thóc
    - 86700chiếc thuyền
    - 2539800 đồ quân khí
    Trong chính quyền đô hộ, nhà Minh thiết lập một mạng lưới thu thuế mang tên là ti thuế khoá, ti tuần kiểm, ti thị bạc, ti thuế muối và một số cơ quan khai thác tài nguyên gọi là ngân trường cục (khai mỏ bạc), kim trường cục (khai mỏ vàng) châu trường cục (mò ngọc trai)...


    Tàn ác hơn nữa, quân Minh còn lùng bắt hàng loạt dân ta đem về nước phục dịch. Riêng Trương Phụ trước sau đã bắt trên 9000 người phần nhiều là thợ thủ công. Quân Minh còn bắt phường nhạc, thầy thuốc, phụ nữ, trẻ em... đem về Trung Quốc hoặc phục vụ cho triều đình và quan lại nhà Minh hoặc bán làm nô tì.


    Năm 1417, nhà Minh rời đô lên Bắc Kinh và trong 3 năm liền, huy động sức người sức của của cả nước để xây dựng kinh thành mới. Nhà Minh cũng bắt nhiều dân phu và thợ thủ công nước ta lao dịch trong công trình này. Và người thiết kế công trình xây dựng đại quy mô đó là Nguyễn An, một kiến trúc sư tài giỏi nước ta bị quân Minh bắt đem về Trung Quốc. Nguyễn An cũng như nhiều người có tài năng khác đều bị chúng cưỡng bức biến thành hoạn quan, suốt đời làm nô lệ cho chúng.


    3. Âm mưu đồng hoá


    Mưu đồ lớn nhất của nhà Minh là đồng hoá dân tộc ta. Âm mưu đó được quán triệt trong toàn bộ chính sách đô hộ của nhà Minh và được thực hiện ráo riết bằng nhiều thủ đoạn hiểm độc, nhất là những thủ đoạn huỷ diệt dân tộc, huỷ diệt văn hoá. Tất cả những gì đã từng quy định sự tồn tại độc lập của đất nước ta, đã tạo nên sức sống của dân tộc ta, chúng đều tìm cách huỷ hoại.


    Tên nước Đại Việt bị xoá bỏ và đất đai bị chia làm quận huyện của nhà Minh. Chúng áp dụng phương sách “dĩ di trị di” để gây chia rẽ làm yếu sức mạnh đoàn kết của dân tộc ta.


    Trong chính quyền đô hộ, bên cạnh bọn tướng sĩ, quan lại nhà Minh cử sang giữ những chức vụ chủ chốt, chúng đào tạo một đội ngũ quan lại người Việt khá đông gọi là thổ quan. Bọn thổ quan này được tuyển lựa trong số những quý tộc, quan lại cũ của triều đình nhà Trần, Hồ đã đầu hàng giặc và trong số những phần tử vong bản của mọi tầng lớp xã hội. Chúng bắt những trẻ em mạnh khoẻ, mặt mũi khôi ngô tuấn tú, gọi là “giao đồng” (trẻ con đất Giao Chỉ), đưa hàng loạt về Trung Quốc, biến các em thành những kẻ tôi đòi trung thành, người thì phục dịch trong cung cấm triều Minh, người thì trở về nước thành thổ quan.


    Trong quân lính, bên cạnh số binh sĩ nhà Minh phái sang, chúng cũng tuyển mộ khá nhiều thổ binh.Theo quy định năm 1416,từ Thanh Hoá trở vào, cứ 2 suất đinh chúng bắt 1 suất lính; từ Thanh Hoá trở ra, 3 suất đinh bắt 1 suất lính. Số thổ binh này được chia về các vệ sở, đóng lẫn lộn với quân Minh để dễ bề kiểm soát.
    Số lượng thổ quan, thổ binh chiếm một tỉ lệ đáng kể trong bộ máy đô hộ của nhà Minh, nhưng chính kẻ thù cũng phải thú nhận rằng: “đầu mục Giao Chỉ có kẻ đã hàng rồi lại phản, phản rồi lại quy phục” và thổ binh thì “ khi chiến đấu thường hài lòng, không chịu hết sức”.


    Lúc bấy giờ, khắp nước lưu truyền rộng rãi một lời nguyền: “ Muốn sống đi ẩn rừng ẩn núi, muốn chết làm quan triều Minh”.


    Văn hoá là một cơ sở tồn tại quan trọng của dân tộc, là biểu hiện tập trung sức sống, bản lĩnh, tâm hồn của dân tộc. Trong âm mưu đồng hoá, nhà Minh đặc biệt dùng nhiều thủ đoạn huỷ diệt nền văn hoá dân tộc của ta.


    Trước lúc xuất quân, Minh Thành Tổ đã trực tiếp ra lệnh cho bọn tướng xâm lăng: “Khi tiến quân vào thành An Nam thì chỉ trừ những bản kinh và sách về Thích, Đạo không huỷ, còn tất cả các bản in sách, các giấy tờ cho đến sách học của trẻ con như loại “thượng, đại, nhân, ất, kỉ”, thì nhất thiết một mảnh giấy, một chữ đều phải thiêu huỷ hết. Trong nước ấy, chỉ có những bia do Trung Quốc dựng nên ngày trước thì để lại, còn những bia do An Nam lập ra thì phải phá cho hết, một chữ cũng không được để lại”. Trong cuộc chiến tranh xâm lược nước ta từ cuối năm 1406 đến giữa 1407, vua Minh nhiều lần nhắc Trương Phụ phải thi hành đầy đủ mệnh lệnh trên. Tháng 8 năm 1418 triều nhà Minh lại cử người sang nước ta vơ vét những sách vở còn sót lại đem về Trung Quốc.


    Do thực hiện chủ trương huỷ diệt văn hoá của nhà Minh, phần lớn các sách điển chương, luật lệ, cùng các tác phẩm lịch sử, văn học, địa lý, quân sự... của thời đó đã bị quân giặc cướp đoạt và tiêu huỷ. Theo Lê Quý Đôn thì: đời nhà Hồ mất nước, tướng nhà Minh là Trương Phụ lấy hết sách vở cổ kim của ta, gửi theo đường sông về Kim Lăng và sau đó, nhà Lê ra sức thu nhập, nhưng 10 phần còn được 4, 5 phần.
    Cuối năm 1246, Vương Thông đã phá chuông Quy Điền và vạc Phổ Minh để lấy đồng đúc vũ khí đàn áp nhân dân ta.


    Chuông Quy Điền (Chùa Một Cột, Hà Nội), vạc Phổ Minh (Nam Định), cùng với đỉnh tháp Báo Thiên (Hà Nội) và tượng Phật chùa Quỳnh Lâm (Quảng Ninh) là 4 công trình tiêu biểu của nghệ thuật đúc đồng thời Lý - Trần đã nổi tiếng là “An Nam tứ đại khí”. Triều đình nhà Minh và quân xâm lược Minh đã phạm nhiều tội ác phá hoại các di sản văn hoá dân tộc của ta.


    Nhà Minh còn coi những phong tục tập quán lâu đời của nhân dân ta là “man tục”, là “di tục” và bắt phải thay đổi theo những quy định cưỡng bức của chính quyền đô hộ. Chúng bắt dân ta không được nhuộm răng đen, bắt đàn ông không được cắt tóc, phụ nữ không được mặc váy mà phải mặc quần dài, áo ngắn theo kiểu người Hoa. Chúng còn quy định cách ăn mặc của các đẳng cấp trong xã hội, và ra sức truyền bá các lễ giáo của phong kiến Trung Quốc.


    Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi đã kịch liệt tố cáo các tội ác dã man của quân giặc.
    “... Tát cạn nước Đông Hải không rửa sạch hôi tanh,
    Chặt hết trúc Nam Sơn khó ghi đầy tội ác.
    Thần người đều căm giận
    Trời đất chẳng dung tha”.


    Nền đô hộ của nhà Minh không những kìm hãm sự phát triển tự nhiên của xã hội mà còn đe dọa nghiêm trọng vận mạng của cả dân tộc, và mọi phẩm chất của con người Việt Nam. Đất nước đứng trước một thử thách hiểm nghèo. Nhưng nhân dân ta đã quyết tâm vượt qua thử thách đó bằng tất cả ý chí và nghị lực của một dân tộc đang phát triển mạnh mẽ.

    (Theo Đại cương Lịch sử Việt Nam)


    Nhắn tin cho tác giả
    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 09:53 08/03/2011
    Số lượt xem: 1304
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến