Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    Anh_Van_Giao_Tiep_Cho_Nguoi_Hoan_Toan_Mat_Goc___Ruby_Thao_Tran.flv NoiNayCoAnhSonTungMTP4772041.mp3 Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf Bai_ca_nguoi_giao_vien_nhan_dan.swf

    Thành viên trực tuyến

    95 khách và 1 thành viên
  • Nguyễn Thị Anh Thư
  • Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Lịch sử Việt Nam >

    Nhà Trần -Kháng chiến chống Mông - Nguyên

    de_quoc_mong_co_yuanmap_01

    Đế quốc Mông Cổ .

    1. Đế chế Mông Cổ hình thành và phát triển


    Đầu thế kỷ XIII, đế chế Mông Cổ hình thành. Bản đồ chính trị vùng Đông Bắc Á thay đổi. Năm 1206 đại hội quý tộc Khurintai trên bờ sông Ôdôn đã tôn Têmujin làm Thành Cát Tư Hãn (Tringit Khan nghĩa là ''vua vĩ đại''). Quốc gia Mông Cổ thống nhất, một nhà nước quân sự tập quyền chuyên chế ra đời.


    Cuộc xâm lược đầu tiên của Thành Cát Tư Hãn nhằm vào nước Tangút (Tây Hạ). Năm 1209, Thành Cát Tư Hãn lại tiến đánh nước Kim (quốc gia do tộc Nữ Chân lập nên ở Bắc Trung Quốc từ đầu thế kỉ XII). Rất nhanh chóng, quân Mông Cổ mở rộng ra cả vùng Mãn Châu, rồi chiếm lấy Trung Đông (Bắc Kinh) vào năm 1215. Sau khi cướp được nhiều của cải và tù binh, Thành Cát Tư Hãn rút quân.


    Năm 1219, Thành Cát Tư Hãn mở cuộc tiến công vào vương quốc Khôretxmơ và Uốcghentrơ thất thủ. Khôretxmơ, một quốc gia đang kì thịnh đạt, từ đó trở thành hoang vắng. Đến năm 1222, quân Mông Cổ xâm nhập Adécbaigian tiến đến Grudia, vượt qua hệ núi Cápcadơ tràn vào bán đảo Cờrưm rồi tiếp tục tràn vào Trung bộ sông Vônga. Ở đây họ gặp sự kháng cự quyết liệt của người Bunga, nên quay trở lại Mông Cổ.


    Về Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn không nghỉ ngơi, lại tiếp tục tiến công Tangút. Năm 1227, Tangút bị diệt, nhưng Thành Cát Tư Hãn bị chết trên con đường viễn chinh ở Cam Túc (Trung Quốc).


    Thành Cát Tư Hãn chết, đế chế Mông Cổ được phân ra cho 4 người con.Con trưởng là Jotri chiếm vùng đất từ tây sông Iêtưsơ đến tận thảo nguyên Tuốcketxtan và từ hạ lưu sông Amu Đaria đến sông Xưa Đaria. Con thứ hai là Tragatai chiếm vùng thảo nguyên Casơga và lưu vực sông Ili. Con thứ ba là Ôgôđây chiếm vùng tây Mông Cổ từ giữa núi Antai đến hồ Bancasơ. Con út là Tôlui kế thừa vùng đất Mông Cổ của cha.
    Năm 1228 Ôgôđây lên ngôi Hãn, chuẩn bị khẩn trương cho cuộc tiến công đánh Kim. Năm 1234, thành Thái Châu bị hạ, vua Kim là Ai Tùng tự sát. Nam Tống theo điều ước tiến quân lấy đất cũ, nhưng quân Mông Cổ đã tháo nước sông Hoàng Hà ngập chìm quân Tống. Diệt xong Kim, Nam Tống trở thành miếng mồi xâm lược của vua Mông Cổ.


    Năm 1236 mở đầu cho cuộc tiến công Nam Tống, tiếp tục mở rộng đế chế Mông Cổ. Ôgôđây cử 3 đạo quân tiến công mở đầu cuộc xâm lược Nam Tống 40 năm. Batu cháu nội của Thành Cát Tư Hãn chỉ huy 15 vạn quân đánh sang châu Âu. Tháng 3 – 1238, công quốc Vlađimia bị chiếm. Năm 1240 quân Mông Cổ chiếm lấy Kiép và toàn bộ Ucraina. Tháng 3 – 1241 Caracốp (Ba Lan) bị chiếm. Tháng 4 năm này, quân Mông Cổ đánh tan liên quân Ba Lan - Tiệp, rồi tiến vào đất Hunggari. Đầu năm 1242 quân Mông Cổ truy kích vua Hung đến tận bờ biển Nam Tư gần thành Vơnidơ của Ý.
    Cuộc viễn chinh Ba Tư khiến cường quốc của Jotri mở rộng to lớn. Jotri lập hẳn lều vàng. Cả châu Âu kinh hoàng, khiếp sợ. Biên niên sử của tu viện thánh Pantalêon ở Cô lôn đã viết: ''Nỗi sợ hãi ghê gớm trước quân dã man lan tận các nước xa xôi, không những ở Pháp mà ở Buốcgông và Tây Ban Nha, là những nơi từ trước tới nay chưa hề biết đến cái tên Tácta''. Và ở Đức xuất hiện bài kinh cầu nguyện "Chúa cứu vớt chúng con khỏi sự cuồng bạo của Tácta''. Giáo hoàng La Mã Grêgô IX kêu gọi tổ chức quân Thập Tự chống lại Mông Cổ.


    Năm 1241, Ôgôđây chết. Ngôi Hãn bỏ trống 5 năm. Mãi đến năm 1246 em Hãn Ôgôđây là Guyúc được cử làm Đại Hãn. Nhưng con Jotri là Ba Tu không thừa nhận. Năm 1248 Guyúc đem quân đánh lại Ba Tu, chết ở giữa đường. Guyúc chết, Mông Ke (Mông Kha) lên làm đại hãn.


    Mông Ke giữ ngôi đại hãn tiếp tục các cuộc viễn chinh xâm lược. Năm 1253, Mông Ke cử quân đi xâm lược Ba Tư. Sau khi chiếm Bát Đa, quân Mông Ke tiến vào Lưỡng Hà chiếm Xy ri, nhưng lại bị người Ai Cập đánh lại Chỉ huy cuộc viễn chinh này là tướng Hulêgu trở về Ba Tư lập một nước Hãn mới. Nước hãn Ba Tư trên thực tế đã thoát li khỏi đại hãn Mông Cổ.


    Đồng thời với cuộc viễn chinh sang châu Âu và Trung Á, đại hãn Mông Ke cùng em là Khubilai (Hốt Tất Liệt) tổ chức cuộc chiến tranh vào miền Nam Trung Quốc. Năm 1271 Khubilai diệt được Nam Tống lập nên nhà Nguyên. Năm 1279, toàn bộ Trung Quốc nằm trong tay Lãnh chúa Mông Cổ.


    Vậy là hơn nửa thế kỉ, quý tộc phong kiến Mông Cổ đã lôi kéo phần lớn thế giới vào những cuộc chiến tranh khủng khiếp. Gươm giáo, máu lửa, tính dã man và đầu óc bành trướng của quý tộc Mông Cổ đã tạo nên một đế chế rộng lớn từ bờ Thái Bình Dương đến bên kia Hắc Hải chưa từng có trong lịch sử thế giới.



    2. Kháng chiến chống xâm lược Mông Cổ lần I (1258)

    chong_quan_nguyen_lan_1_500

    Lược đồ kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ nhất .


    Guyúc (Quý Do) chết năm 1248, nhưng mãi đến 1251 Mông Ke mới lên ngôi đại hãn. Mông Ke ráo riết chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc. Năm 1252 Mông Ke sai Khubilai (Hốt Tất Liệt) đánh chiếm Đại Lý (rồi đổi tên là Vân Nam) lấy đó làm bàn đạp mở cuộc tiến công vào Đại Việt.


    Theo kế hoạch định trước thì quân Mông Cổ sẽ đánh chiếm Nam Tống theo 4 hướng tiến công. Khubilai chỉ huy một cánh quân đánh chiếm Ngạc Châu (Hồ Bắc). Một cánh quân do Tôgatrai chỉ huy đánh xuống Kinh Châu. Mông Kha chỉ huy 4 vạn quân đánh xuống Tứ Xuyên, và Uriangkhađai (Ngột Lương Hợp Thai) chỉ huy cánh quân từ Đại Lý đánh thẳng xuống Đại Việt, từ đó đánh vào Ung Châu (Quảng Tây), Quế Châu (Quảng Tây) rồi tiến lên hợp quân với Khubilai ở Ngạc Châu.


    Vậy là cánh quân của Uriangkhaiđai phải thực hiện hai nhiệm vụ: đánh chiếm Đại Việt và từ Đại Việt đánh lên Nam Tống. Chiếm được Đại Việt còn có ý nghĩa lớn sau này cho đế quốc Mông Cổ là lập được bàn đạp cho các cuộc viễn chinh xuống Đông Nam Á. Nguyên sử cho biết: ''Ngột Lương Hợp Thai vào Giao Chỉ định kế ở lâu dài”.
    Chiếm được Đại Việt là mục tiêu chiến lược của kế hoạch Mông Kha và đó cũng là cố gắng rất lớn của chúng. Sau khi chiếm được Đại Lý, quân số Mông Cổ chỉ còn hơn 2 vạn người. Chúng còn dùng thêm hơn 2 vạn hàng binh của tên vua đầu hàng Đoàn Hưng Trí sáp nhập làm ''quân tiên phong". Tổng số quân xâm lược do Uriangkhađai chỉ huy có thể tới 4 vạn.


    Xuống gần biên giới nước ta, chúng dừng quân và cho sứ giả đưa thư vào Đại Việt đe dọa và dụ hàng. Nhưng 3 lần liên tục cử sứ giả vào Đại Việt, cả ba lần không thấy sứ giả trở về.


    Thường xuyên theo dõi tình hình và biết rõ âm mưu xâm lược của quân Mông Cổ, nhà Trần đã chuẩn bị kháng chiến. Tháng 9 - 1257 chủ trại Quy Hóa (dọc hữu ngạn sông Hồng) cho người cấp báo về triều đình tin sứ giả Mông Cổ đến. Tháng 10, vua Trần Thái Tông xuống chiếu cho các tướng điều quân thủy bộ lên miền biên giới Tây Bắc và ra lệnh cho cả nước khẩn trương chuẩn bị đánh giặc. Các sứ giả Mông Cổ láo xược đều bị tống giam ở kinh đô Thăng Long.

    luoc_do_dien_bien_lan_thu_nhat_chong_quan_mong_co_nam_12581.__500

     Lược đồ kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ nhất .


    Không thấy sứ giả về, Uriangkhađai quyết định tiến công. Y sai Trếch Trếch Đu (Triệt Triệt Đô) và một tướng khác chia quân làm 2 đạo tiến theo tả ngạn và hữu ngạn sông Thao. Đường tả ngạn qua vùng đất các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang ngày nay xuống Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ). Đường hữu ngạn qua vùng đất Quy Hóa (Lào Cai, Yên Bái) cùng xuống Bạch Hạc. Hai đạo quân nhỏ này chỉ là quân đi trước thăm dò, dẫn đường. Theo sau là đạo quân khác do con trai của Uriangkhađai là AJu (A- thuật) chỉ huy. Và cuối cùng là đạo quân do chính Uriangkhađai tiến sau.


    Tháng 1 - 1258, hai đạo quân Mông Cổ đi trước cùng đến hội quân ở Bạch Hạc. Sau đó chúng theo đường bộ, hướng về Thăng Long đến Bình Lệ Nguyên. Ở Bình Lệ Nguyên (có lẽ là vùng Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay) nơi có sông Cà Lồ chắn ngang, vua Trần Thái Tông đã lập phòng tuyến chặn giặc.


    Thấy quân ta dàn trận bên sông, Aju vội cho người quay lại báo tin với Uriangkhađai thúc quân tiến xuống. Ngày 17- 1- 1258 chúng kéo đến Bình Lệ Nguyên.


    Uriangkhađai tiến sát bên kia sông đang tìm cách vượt qua. Y chia quân làm 3 đợt. Đội tiền phong do Trếch Trếch Đu chỉ huy vượt qua sông sang trước. Uriangkhađai dẫn đội trung quân sang sau. Còn Khai đu và Aju dẫn hậu đội vượt sông cuối cùng.
    Quân Trếch Trếch Đu vượt sông lên đến bờ bị quân ta chặn đánh quyết liệt. Vua Trần Thái Tông tự mình đốc thúc tướng sĩ, xông vào trận mạc cùng binh sĩ trực tiếp chiến đấu. Tướng Lê Tần (được gọi Lê Phụ Trần) dũng cảm cưỡi ngựa xông vào trận giặc.
    Địa hình Bình Lệ Nguyên khá thuận lợi cho kỵ binh Mông Cổ phát huy sở trường của chúng. Trận địa của ta bị lấn dần. Những tên lính Mông Cổ thiện xạ bắn vào voi của ta. Voi hoảng sợ lồng quay lại trước sức tiến công của chúng. Quân ta rời trận địa đến sách Cụ Bản thì có quân tiếp viện của tướng Phạm Cụ Chích tiếp đến. Phạm Cụ Chích đem quân ngăn chặn giặc, và ông hi sinh, nhưng quân Trần đã rút lui an toàn. Nhà vua xuống thuyền ở bến Lãng Mĩ. Quân Mông Cổ đứng trên bờ bắn theo. Lê Tần lấy ván thuyền che cho nhà Vua. Thuyền quân ta theo sông Cà Lồ xuôi về Phủ Lỗ. Âm mưu cướp thuyền, chặn đường rút lui và bắt sống vua Trần của địch hoàn toàn thất bại. Uriangkhađai nổi giận, đổ mọi tội lỗi lên đầu tướng tiên phong. Trếch Trếch Đu hoảng sợ, uống thuốc độc tự tử.


    Hôm sau (18- l- 1258) vua Trần cho phá cầu Phủ Lỗ và bố trí quân lập thế trận bên hữu ngạn sông ngăn địch. Đến Phủ Lỗ, Uriangkhađai thúc quân vượt sông, đánh vào trận địa quân ta. Quân ta rút lui về Thăng Long.


    Cố thủ không được, triều đình quyết định rút lui khỏi kinh đô để bảo toàn lực lượng. Bà Linh Từ quốc mẫu, vợ thái sư Trần Thủ Độ chỉ đạo việc sơ tán các cung phi và gia đình các tướng, các quan lại về vùng sông Hoàng Giang (Lý Nhân, Hà Nam). Quân đội và nhà vua thì lui về vùng sông Thiên Mạc (Duy Tiên, Hà Nam). Thăng Long yên tĩnh trống không. Quân Mông Cổ tiến vào một kinh đô vắng lặng. Chúng sục sạo khắp nơi, chỉ thấy trong nhà ngục những sứ giả mà Uriangkhađai đã phái vào Đại Việt trước đây đang gục đầu trên mặt đất. Sách Nguyên sử loại biên chép: "Ngột Lương Hợp Thai kéo quân vào đô thành thấy 3 người sứ sai sang trước đang bị giam trong ngục, người nào cũng bị những thanh tre bó chặt vào mình, sát hằn đến da, khi cởi trói ra thì một người đã bị chết". Bọn giặc điên cuồng tàn phá kinh thành giết hại những người ở lại.


    Về phía giặc, vào Thăng Long hoang vắng, gặp khó khăn về hậu cần, chúng đánh ra vùng xung quanh kinh đô để hòng cướp bóc lương thực. Nhưng ở đây cũng bị nhân dân các hương ấp chống cự quyết liệt. Tiêu biểu nhất là cuộc chiến đấu bảo vệ làng xóm của nhân dân Cổ Sở (Yên Sở, Hoài Đức, Hà Tây). Nghe tin giặc kéo đến, nhân dân Cổ Sở đã tự tổ chức lực lượng vũ trang đào hào bao quanh làng, dựng luỹ chiến đấu. Khi giặc kéo đến làng, kị binh không vượt qua được hào, lại bị cung nỏ bắn ra. Chúng phải rút lui, chịu thất bại. Thắng lợi của nhân dân Cổ Sở là thắng lợi của chiến tranh nhân dân địa phương đang mở rộng xung quanh kinh đô Thăng Long. Lực lượng quân xâm lược Mông Cổ đã thất bại đầu tiên trước những cuộc chiến đấu từ xóm làng, hương ấp. Chỉ sau mấy ngày vào Thăng Long, quân Mông Cổ hoàn toàn mất hết nhuệ khí chiến đấu. Đã không có lương ăn, lại bị các làng xóm xung quanh chống lại, Uriangkhađai và bọn tướng lĩnh đều hoảng hốt đến cực điểm. Nắm vững thời cơ, triều đình nhà Trần quyết định phản công giải phóng Thăng Long.


    Ngày 29- 1- 1258 Trần Thái Tông cùng nhiều tướng lĩnh đem binh thuyền từ sông Thiên Mạc ra sông Hồng tiến tới Thăng Long. Quân ta đổ bộ lên Đông Bộ Đầu (bến sông Hồng khoảng từ dốc Hàng Than đến dốc Hòe Nhai, quận Ba Đình- Hà Nội) tập kích doanh trại địch.


    Địch bị đánh bật khỏi kinh thành. Uriangkhađai cho quân rút theo đường cũ theo hữu ngạn sông Hồng trở về Vân Nam. Đến trại Quy Hóa, quân giặc lại bị nhân dân miền núi dưới sự chỉ huy của trại chủ Hà Bổng đổ ra đón đánh. Quân Mông Cổ bị thiệt hại nặng, hoảng sợ, cắm đầu chạy thoát thân không dám nghĩ đến chuyện cướp bóc đốt phá như khi mới tiến vào Đại Việt. Nhân dân ta bấy giờ mỉa mai gọi chúng là ''giặc Phật''.
    Uriangkhađai thúc tàn quân chạy ra khỏi biên giới sang Vân Nam, dừng chân tại thành Áp Xích (Côn Minh). Đợt viễn chinh của Mông Cổ sang Đại Việt đến đây hoàn toàn thất bại. Uriangkhađai tướng thân tín của đại hãn Mông Ke, từng đánh Liêu, từng theo hãn Ba Tu đánh Ba Lan, Hunggari, mà đã có thời, bọn quý tộc Mông Cổ tôn xưng y là viên tướng bách chiến bách thắng nhưng nay đã thua trận trên đất Đại Việt.
    Theo nhà sử học Rasít Uđin thì cánh quân của Uriangkhađai tuy không lớn, nhưng có đến 50 thân vương, trong đó có Abisca con Thành Cát Tư Hãn. Đạo quân hùng mạnh nhiều tướng tài như vậy chỉ được ở Thăng Long có 9 ngày.
    Kinh thành sạch bóng quân thù, ngày 5- 1- 1258 là ngày tết nguyên đán năm Mậu Ngọ. Trong buổi thiết triều, Trần Thái Tông phong thưởng cho các tướng lĩnh có quân công. Lê Tần và Hà Bổng là người đứng đầu, Hà Bổng được phong tước hầu. Cuộc kháng chiến chống Mông -Nguyên lần thứ nhất đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong nhiều thế hệ sau. Mãi đến cuối thế kỉ XIII vua Trần Nhân Tông - người anh hùng chống Nguyên còn viết:
    “Bạch đầu quan sĩ tại
    Vãng vãng thuyết Nguyên Phong”
    (Người lính già đầu bạc.
    Mãi kể chuyện Nguyên Phong).

    3. Cuộc kháng chiến của nhân dân Chăm pa


    Đầu năm 1280, sau khi chiếm xong Nam Tống, Khubilai mới ra lệnh cho quan lại ở khu mật hàn lâm viện bàn với Toa Đô chiêu dụ các nước "ngoài biển'' đặc biệt là Chiêm Thành. Khubilai phong cho vua Chămpa là Chiêm Thành quận vương, hàm Vinh Lộc đại phu ban hổ phù. Tháng l0 năm Tân Tỵ (11-1281) thì chúa Nguyên chấm đứt kiểu chiêu dụ mà đẩy mạnh chiến tranh xâm lược. Khubilai lập hành trung thư tỉnh Chiêm Thành, do Toa Đô làm hữu thừa, Lưu Thâm làm tả thừa, và binh bộ thị lang người Uigur là Ygơmicơ làm tham tri chính sự.
    Vậy là bộ máy chỉ huy cuộc viễn chinh xâm lược Chiêm Thành được thành lập.
    Chúa Nguyên còn ra lệnh điều động một vạn quân thủy và hơn 100 chiến thuyền; đồng thời còn bắt vua Chămpa cung cấp lương thực cho đoàn quân này. Sau đó y còn lấy những sứ giả trước đây đã đến Chămpa như bọn Mạnh Khánh Nguyên, Tôn Thắng Phu làm tuyên úy sứ Quảng Châu kiêm trông coi việc xuất chinh.
    Bấy giờ Vua Chămpa đã già, thái tử nắm giữ các trọng trách trong nước, Harijit không chịu lùi bước trước kẻ thù, tích cực chuẩn bị kháng chiến. Năm 1282, đồng thời với việc sai Toa Đô chỉ huy quân thủy đánh Chămpa, nhà Nguyên cử 2 sứ đoàn, sứ đoàn đi Xiêm có Vạn hộ Hà Tử Chí thiên hộ Hoàng Phủ Kiệt; và sứ đoàn đi Mã Bắt nhi (Mabar) có tuyên úy sứ Lưu Vĩnh Hiền và A Lan. Cả hai sứ bộ đi qua Chămpa đều bị bắt giữ lại.


    Tháng 12- 1282 đoàn binh thuyền của Toa Đô xuất phát từ Quảng Châu. Ngày 30- 12- 1282 chúng đến cảng Chiêm Thành tức là cảng Quy Nhơn (Bình Định).
    Đoàn viễn chinh xâm lược của Toa Đô vừa đặt chân lên vùng bờ biển Quy Nhơn thì quân Chăm pa ra sức củng cố thành gỗ chặn đường tiến quân của giặc. Hàng trăm cỗ pháo ''Hồi hồi'' - tức là loại máy bắn đá loại lớn được đưa ra để bảo vệ thành. Nhà vua Inđravarman cũng lập hành cung cách thành gỗ 10 dặm để kịp ứng viện cho quân đội.


    Dụ dỗ chiêu hàng không khuất phục được vua Chămpa. Biết Chămpa quyết chiến, Toa Đô hơi chần chừ. Đến ngày 13-2- 1283 Toa
    Đô ra lệnh binh thuyền xuất phát. Nửa đêm, quân Nguyên chia làm 3 mũi tấn công thành gỗ.


    - Mũi thứ nhất hơn 1600 quân thủy đánh vào phía bắc, do an phủ sứ Quỳnh Châu Trần Trọng Đạt chỉ huy.
    - Mũi thứ hai hơn 300 quân đánh vào đồi cát phía đông, do Tổng bả Trương Bàn chỉ huy.
    - Mũi thứ ba hơn 3000 quân đánh vào mặt nam do chính Toa Đô chỉ huy.

    Cuộc chiến đấu giữ thành quyết liệt, quân Nguyên phá được cửa nam thành, tràn vào, thắng thế. Quân Chămpa biết giữ không nổi, đã rút lui. Thành gỗ lọt vào tay giặc. Thành gỗ giữ cảng thất thủ là một tổn hại lớn cho người Chămpa. Vua Inđravarman thấy chưa thể ứng chiến tiếp được, nên cho quân rút vào núi, các kho tàng quân lương không chuyển kịp đều cho đốt sạch. Đồng thời trong giờ phút này, vua Chămpa cho xử tử 2 tên sứ giả của Toa Đô là Lưu Vĩnh Hiền và A Lan, để biểu thị lòng căm thù và ý chí kháng chiến của nhân dân Chămpa.


    Ngày 12-2- 1283, Toa Đô tiến đánh Đại Châu (hay còn gọi là Vijaya hay sử ta gọi là Đồ Bàn, Trà Bàn) là thành lớn kiên cố (hay thuộc địa phận xã Nhân Hậu và Đập Đá, huyện An Nhơn, Bình Định). Ngày 17-2, vua Chămpa sai sứ đến ''xin hàng''. Ngày 18-2 quân Nguyên tiến sát đến phía nam thành Vijaya, Toa Đô tha sứ Chămpa trở về. Ngày 19-2 quân Nguyên tiến vào kinh đô Vijaya. Kinh đô bỏ trống, quân Chămpa đã chủ động rút quân vào rừng núi. Thấy tòa thành trống rỗng, Toa Đô lo sợ cảnh giác, cho quân đóng bên ngoài thành. Trong thời gian hòa hoãn đó, vua Inđravarman và thái tử Harijit đã xây dựng một căn cứ ở núi Nha Hầu nằm trong rừng núi sâu hiểm, có thành gỗ vững chắc, và quân số khá lớn. Đồng thời vua Chămpa còn sai sứ giả đến Đại Việt, Chân Lạp và Đồ Bà (Gia va) xin quân cứu viện. Có lẽ Đất Việt đã kéo quân sang Chiêm Thành (mà sau đó nhà Nguyên có trách là vua Đại Việt đã giúp Chăm pa 2 vạn quân 500 chiến thuyền).


    Sau 1 tháng, Toa Đô biết là mình đã bị lừa, liền tổ chức một cuộc tiến công vào căn cứ địa. Ngày 16-3- 1283, Toa Đô sai vạn hộ Trương Ngung dẫn quân vào chỗ vua Chămpa ở. Trải qua nhiều ngày hành quân vất vả, quân Nguyên đến được dưới chân thành gỗ, nhưng chúng bị hãm vào thế tiến thoái lưỡng nan. Cuối cùng chúng phải liều chết để thoát khỏi vòng vây "mới trở về được doanh trại".
    Trước thất bại của Trương Ngung, chủ tướng Toa Đô không dám tổ chức cuộc tiến công mới nữa. Toa Đô lại rút quân từ ngoài thành Vijaya về cảng Quy Nhơn. Tại đây chúng dựng lại thành gỗ, chấn chỉnh đội ngũ, có ý đóng quân lâu dài chờ đợi viện binh.


    Bấy giờ Khubilai cũng đang có ý tăng viện Cho Toa Đô. Giữa năm 1288, y điều động thêm 3 vạn quân bổ sung cho Toa Đô và cung cấp thêm vũ khí, lương thực. Tướng giặc Arickhaya đòi Đại Việt phải cung cấp lương thực và cho mượn đường xuống Chămpa. Đại Việt từ chối. Chúng phải dùng đường thủy để làm đường tiếp viện. Đầu năm 1285, Toa Đô rút một bộ phận quân đổ vào chiến tranh xâm lược Đại Việt. Viên tham chính Ygơmítsơ (Yignlis) vẫn đóng quân cố thủ tại vùng hồ Đại Lãng. Cho đến khi cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt bị thất bại hoàn toàn thì Ygơmítsơ mới rút khỏi Chiêm Thành. Đất nước Chămpa hoàn toàn yên bình. Cuộc kháng chiến của nhân dân Chămpa đã góp phần trì hoãn cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt và đến lượt mình, cuộc kháng chiến của nhân dân Đại Việt lại góp phần vào việc giải phóng đất nước Chămpa.



    4. Kháng chiến lần hai (1285)

    luoc_do_dien_bien_lan_thu_hai_chong_quan_nguyen_1285__500

    Lược đồ diễn biến  cuộc kháng chiến lần thứ hai  chống quân Nguyên năm  1285.


    Việc lập An Nam tuyên úy ti và sai 1000 quân hộ tống Trần Di Ái về Đại Việt năm 1282 thất bại. Hốt Tất Liệt luôn luôn tìm cách sách nhiễu nhà Trần, gây sự tiến công xâm lược. Khi Toa Đô thất bại ở Chiêm Thành và 2 vạn quân Ô Mã Nhi tan tác vì bão biển thì Hốt Tất Liệt càng muốn nhanh chóng đánh chiếm Đại Việt. Từ bài học thất bại nặng nề ở Đại Việt năm 1258 và ở Chiêm Thành năm 1283, nên lần này Hốt Tất Liệt đã huy động một lực lượng rất lớn. Đại Việt sử kí toàn thư chép đến 50 vạn quân (trong đó có cả tàn quân thất trận ở Chiêm Thành). Chỉ huy đạo quân viễn chinh khổng lồ này là Thoát Hoan và Arickhaya (A Lí Hải Nha). Thoát Hoan là con của Hốt Tất Liệt, được phong là ''Trấn Nam Vương vào giữa năm 1284. Còn A Lí Hải Nha là viên tướng người Uigur, gian hùng tàn bạo, là một trong những viên tướng chủ chốt chinh phục Nam Tống được xếp loại công thần của triều Nguyên. Ngòi lửa chiến tranh sắp nổ. Những ngày tháng giữa năm 1282, vua tôi nhà Trần đã gấp rút chuẩn bị kháng chiến.

     

     Tháng 11 năm này, vua Trần ra Bình Than đến Trần Xá loan mở hội nghị các vương hầu quan lại. Bình Than là bến sông lớn trên cửa sông Đuống đổ vào sông Lục Đầu (nay thuộc xã Đại Than, Gia Lương, Bắc Ninh) gần thái ấp Vạn Kiếp của Trần Hưng Đạo, là địa điểm quân sự hiểm yếu.

    Tập tin:Chongquannguyenlan2.svg

     

    Tháng 11 năm này, vua Trần ra Bình Than đến Trần Xá loan mở hội nghị các vương hầu quan lại. Bình Than là bến sông lớn trên cửa sông Đuống đổ vào sông Lục Đầu (nay thuộc xã Đại Than, Gia Lương, Bắc Ninh) gần thái ấp Vạn Kiếp của Trần Hưng Đạo, là địa điểm quân sự hiểm yếu.


    Đây là hội nghị quân sự vô cùng quan trọng. Các vương hầu võ tướng đều có mặt để bàn kế đánh giặc. Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, vì trước đây có phạm tội, bị cách chức, ra Chí Linh (Hải Dương) làm nghề bán than, nay vua Trần tha tội cho ông gọi về hội nghị Khánh Dư mặc áo ngắn, đội nón lá đến Bình Than nhưng đề xuất nhiều ý kiến phù hợp với vua. Hai thiếu niên quý tộc Hoài Nhân vương Kiện, Hoài Văn hầu Quốc Toản không được vào hội nghị vì còn ít tuổi. Quốc Toản đến bến Bình Than với mong muốn thể hiện ý chí diệt giặc. Không được vào Hội nghị, cậu vô cùng uất ức "đã bóp nát quả cam trong tay lúc nào không biết''. Trở về, Quốc Toản huy động hơn nghìn gia nô và thân thuộc, sắm sửa vũ khí, đóng chiến thuyền, ngày đêm luyện tập quân sự chờ khi diệt giặc lập công. Trên lá cờ của người chỉ huy trẻ tuổi có đề 6 chữ ''Phá cường địch, báo hoàng ân".


    Sau Hội nghị quân sự Bình Than, các tướng lĩnh được phân chia đem quân trấn giữ những nơi hiểm yếu, quan trọng. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn được cử làm Quốc công tiết chế thống lĩnh quân đội cả nước. Chiêu Minh vương Trần Quang Khải được cử giữ chức Thượng tướng thái sư.


    Trong khi quân dân cả nước đang khẩn trương chuẩn bị cho cuộc kháng chiến, Trần Quốc Tuấn ra Hịch tướng sĩ nêu nghĩa lớn cứu nước, cứu mình. Toàn văn bài hịch là lời kêu gọi thiết tha, tràn đầy tinh thần yêu nước và chí căm thù quân cướp nước như ngọn lửa bốc cao.


    Quân dân ta thích vào cánh tay của mình 2 chữ “Sát thát'' (giết giặc Thoát Đát- chỉ quân Mông Cổ). Rồi đến tháng l- 1285, thượng hoàng Thánh Tông mời các bậc phụ lão có uy tín trong nước về kinh đô Thăng Long hỏi kế đánh giặc. Trong bữa tiệc ở điện Diên Hồng, các vị, đã đồng thanh hô lớn “Đánh". Đại Việt sứ kí toàn thư ghi rõ: "Muôn người cùng nói như một miệng sinh ra". Khắp nơi nhân dân ta thực hiện mệnh lệnh của triều đình. “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến phải liều chết mà đánh. Nếu sức không địch nổi thà cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng".


    Sau cuộc duyệt binh ở Đông Bộ Đầu, theo lệnh của quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo, các đơn vị chủ lực chia nhau đi đóng giữ các khu vực trọng yếu Phạm Ngũ Lão đưa quân lên biên giới Lạng Sơn, Trần Nhật Duật tới trấn giữ vùng Tuyên Quang, Hoài Thượng hầu Trần Văn Lộng giữ vững Tam Đái (Vĩnh Phúc). Còn bản doanh của tiết chế Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn lại đóng ở Nội Bàng (Khoảng Chũ, Bắc Giang).
    Vào giữa năm 1284, Thoát Hoan và Aritckhaya khẩn trương điều quân vào Đại Việt Hốt Tất Liệt còn ra lệnh cho Naxirut Đin (Nạp tốc lạt dinh) là tướng đóng quân ở Vân Nam tiến vào đất lộ Tuyên Quang của ta. Đồng thời Thoát Hoan còn sai người xuống Chămpa ra lệnh cho Toa Đô từ Chiêm Thành tiến lên mặt nam của Đại Việt. Vậy là bọn Mông - Nguyên muốn diệt Đại Việt bằng 3 gọng kình đánh vào biên giới phía bắc và phía nam.


    Đầu năm 1285, quân Thoát Hoan đến Ung Châu (Nam Ninh, Quảng Tây). Chúng vào biên giới Lộc Châu (thuộc Lạng Sơn) của Đại Việt. Tại các cửa ải biên giới, đạo quân của tướng Phạm Ngũ Lão đang sẵn sàng đợi giặc. Vừa đặt chân tới biên giới, giặc phái 2 đội quân mở đường, tiến theo 2 đường khác nhau. Một đội qua Khâu Ôn (Chi Lăng, Lạng Sơn) do tên Vạn hộ Bôkhađa (Bột la cáp đáp nhi) chỉ huy và một đội theo con đường phía đông qua ải Khâu Cấp (có lẽ là núi Khau Túc ở Tây nam huyện Lộc Bình tức là con đường từ Lộc Bình đi Sơn Động (Bắc Giang). Đội quân này do Xatáctai (Tán đáp nhi tai) và vạn hộ Lý Bang Hiến chỉ huy. Còn đại quân của Thoát Hoan và A lí hải nha thì theo phía đông.


    Ngày 2-2- 1285, quân giặc chia làm 6 mũi đánh vào Nội Bàng (Bắc Giang). Trần Quốc Tuấn chỉ huy đại quân chặn giặc. Nhưng trước thế giặc còn mạnh, quân còn đông, quân ta bị tổn thất. Đại liêu ban Đoàn Thai bị bắt. Cùng lúc đó, cánh quân Nguyên do Bônkhađa chỉ huy theo đường phía tây cũng vượt qua ải Khâu Ôn đánh chiếm cửa quan Lão Thử ( ải Chi Lăng, Lạng Sơn). Trước tình hình đó, Trần Quốc Tuấn thấy không thể chặn được địch, quyết định lui quân về Vạn Kiếp. Bấy giờ, tướng Yết Kiêu đang giữ thuyền ở bến Bãi (trên sông Lục Nam) đợi Trần Quốc Tuấn. Quốc Tuấn dự định rút theo đường núi nhưng Dã Tượng nói: ''Yết Kiêu chưa thấy đại vương, tất chưa chịu dời thuyền” và Trần Quốc Tuấn đến bến Bãi quả nhiên thấy Yết Kiêu còn chờ.
    Trần Quốc Tuấn xuôi về Vạn Kiếp an toàn. Chính trong giờ phút rút lui nguy nan đó, tiết chế Trần Quốc Tuấn nhận ra vai trò to lớn của người vệ sĩ gia nô Yết Kiêu và ông đã kêu lên: ''Ôi, chim hồng hộc có thể bay cao được là nhờ có 6 chiếc trụ cánh. Nếu không có 6 trụ cánh thì cũng như chim thường mà thôi".


    Thuyền chủ tướng Trần Quốc Tuấn xuôi sông Lục Nam về Vạn Kiếp, Nghe tin quân ta rút lui, vua Thánh Tông vội vã đi thuyền ra tìm gặp Quốc công tiết chế. Trời chiều, nhà vua vẫn chưa ăn sáng, người lính cận vệ nấu phần gạo xấu của mình dâng lên. Thánh Tông vờ hỏi Thống soái ''thế giặc như thế ta phải hàng thôi'' Trần Quốc Tuấn nghiêm chỉnh trả lời ''Bệ hạ chém đầu tôi rồi hãy hàng''.


    Trần Quốc Tuấn tập trung binh lực lớn ở Vạn Kiếp ông lấy thêm lộ Hải Đông (Hải Dương, Quảng Ninh) và quân các vương hầu. Ba người con trai của ông là Hưng Vũ vương Hiếu, Hưng Nhượng vương Tảng, Hưng Trí vương Nghiễn cùng với Minh Hiến vương Uất kéo quân về đây với khoảng 20 vạn người.


    Ngày 11-2-1285, địch tiến công phòng tuyến Bình Than. Quân bộ đánh vào các cứ điểm ở hai bên bờ sông như Vạn Kiếp, núi Phả Lại. Quân ta chống trả mãnh liệt. Trong trận Vạn Kiếp, tướng giặc là vạn hộ Nghê Nhuận bỏ mạng ở Lưu Thôn. Vua Trần dẫn quân về tăng viện cho Trần Quốc Tuấn. Cuộc chiến đấu kéo dài liên tục 4 ngày. Ngày cuối cùng, 14-2- 1285, bọn tướng Nguyên là Ômô, Nakhai, Tôn Lâm Đức đã đem chiến thuyền giao chiến với quân ta do vua Trần chỉ huy trên vùng sông nước Bình Than. Quân ta rút lui khỏi Vạn Kiếp. Vua Trần và quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn xuôi thuyền về Thăng Long.


    Ngày 17-2- 1285, quân Nguyên kéo tới bờ Bắc sông Hồng. Quân ta chặn đánh. Chúng không qua được sông. Đến chiều, vua Trần muốn phái một người sang trại Ô Mã Nhi, vờ cầu hòa cốt để thăm dò tình hình. Đỗ Khắc Chung xin đi, Trần Thánh Tông mừng nói “không ngờ trong đám ngựa kéo xe muối lại có ngựa kì, ngựa kí''. Trong trại giặc, Đỗ Khắc Chung bình tĩnh đối phó, ứng đối linh hoạt, khiến cho Ô Mã Nhi phải khâm phục. Sáng hôm sau, 18-2- 1285, Đỗ Khắc Chung trở về doanh trại quân ta. Ô Mã Nhi hối tiếc vì đã thả Khắc Chung, Y cho quân đuổi theo, nhưng không kịp.


    Trong khi vua Nhân Tông và Hưng Đạo vương đang đối phó với đạo quân của Thoát Hoan thì ở phía Tuyên Quang, võ tướng chưa đầy 30 tuổi Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật cũng đang chiến đấu chống giặc từ Vân Nam tràn xuống. Quân giặc do viên bình chương chính sự Vân Nam là Naxirút Đin chỉ huy. Trần Nhật Duật đóng quân tại trại Thu Vật (vùng Yên Bình, Yên Bái). Giặc tiến công từ nhiều phía, quân ta giao chiến vài trận rồi rút lui Naxirút Đin cho quân chặn đường. Biết trước quỷ kế của chúng, Trần Nhật Duật bỏ thuyền lên bộ, thoát khỏi vòng vây.


    Ngày 20-2- 1285 (rằm tháng giêng năm Ất Dậu), cánh quân của Trần Nhật Duật về đến Bạch Hạc, quân ta dừng lại bên bờ sông (khoảng gần cầu Việt Trì ngày nay) cắt tóc tuyên thệ trước thần linh ''dốc hết lòng trung để báo đền quân thượng''. Sau đó, quân ta theo đường núi về mạn hạ lưu sông Hồng. Thượng hoàng Thánh Tông và vua Nhân Tông theo sông Hồng về Thiên Trường (Nam Định). Thoát Hoan vừa chiếm được Thăng Long vội vàng sai quân đuổi theo.


    Đến vùng Thiên Mạc (khoảng xã Châu Giang và huyện lị Duy Tiên, Hà Nam Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng chiến đấu vô cùng dũng cảm để bảo vệ đường rút quân của ta. Nhưng vì quân ta ít, Trần Bình Trọng bị giặc bắt. Chúng vừa đe dọa vừa dụ dỗ, nhưng Bình Trọng không hề khuất phục. Ông nhịn ăn, không thèm trả lời câu hỏi của giặc. Chúng lại mua chuộc ông bằng tước vương, ông mắng lại: ''Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc'', Ngày 26 tháng 2 năm 1285, giặc giết ông.
    Rời Thăng Long về Thiên Trường, Trường Yên, Trần Quốc Tuấn và vua Trần thấy rằng cần củng cố mặt trận phía nam, nhằm chặn đường tiến ra của Toa Đô, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật được lệnh vào trấn giữ Nghệ An, Chương Hiến hầu Trần Kiện vào Thanh Hóa. Rồi đến ngày 5- 3- 1285, vua Trần lại cử tiếp thượng tướng thái sư Chiêu Minh vương Trần Quang Khải vào tăng cường cho Nghệ An.


    A Lí Hải Nha và Thoát Hoan cố gắng kiểm soát vùng chiếm đóng. Chúng phân bố nhiều quân sĩ dựng đồn trại nhiều nơi, nhưng các đồn trại của chúng phân tán lại là mục tiêu cho các lực lượng dân binh địa phương, các Vương hầu quý tộc bao vây và tiêu diệt. Nhân dân làng Cồ Sở lại tiếp tục đào hào dựng luỹ lập ''làng chiến đấu" (như trong kháng chiến lần trước 1258).


    Ở miền biên giới phía bắc, Nguyễn Thế Lộc, một hào trưởng dân tộc Tày, được triều đình cử làm quản quân. Quân của ông có nhiều người Tày và có cả quân chủ lực triều đình. Gia nô của Trần Quốc Tuấn cũng có mặt trong cánh quân Nguyễn Thế Lộc. Khi quân Nguyên qua biên giới, Nguyễn Thế Lộc còn giữ Thất Nguyên (Tràng Định, Lạng Sơn) giờ đây ông cho quân hoạt động hầu khắp lộ Lạng Sơn đến ải Chi Lăng.


    Nắm vững tình hình địch, tiết chế Trần Quốc Tuấn và Phạm Ngũ Lão đem hơn 1000 chiến thuyền từ Long Hưng (Hưng Hà, Thái Bình) đến Vạn Kiếp. Đại quân ta ngược sông Thái Bình, qua lộ Hải Đông. Lực lượng địch ở đây mỏng, yếu, nên quân Trần chiếm Vạn Kiếp không khó khăn lắm. Tin Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đóng quân tại Vạn Kiếp khiến cho Thoát Hoan hoảng sợ. Y vội vàng gửi thư về nước cầu cứu viện binh. Vậy là quân Thoát Hoan và A Lí Hải Nha đang bị cô lập. Bốn mặt chung quanh đều gặp sức chiến đấu của ta.


    Ở mặt Nam, từ Thanh - Nghệ trở vào tình hình có khác ngoài Bắc. Quân ta gặp nhiều khó khăn. Tháng 2 năm 1285, Toa Đô, Giảo Kì từ Chămpa đánh ra Bố Chính (Quảng Bình). Nhật Duật và Trịnh Đình Toản vừa mới vào đất Nghệ An chống cự không nổi, Toa Đô chiếm Nghệ An, Trần Quang Khải tăng viện nhưng không kịp. Toa Đô tiến ra Thanh Hoá, quý tộc Chương Hiên hầu Trần Kiện cùng bọn Lê Trắc đầu hàng và dẫn đường cho giặc tiến đánh quân ta.


    Cuộc chiến đấu chống quân Toa Đô của nhân dân Thanh Hoá rất kiên cường. Ngày 9 – 3, tướng Nguyên là Giảo Kì thúc quân đến Bố Vệ (Cầu Bố, Thanh Hoá). Nhân dân trong vùng nổi lên đánh địch. Dân hương Yên Duyên (xã Quảng Hùng, quảng xương, Thanh Hoá) dưới sự chỉ huy của đại toát Lê Mạnh đã chống cự quyết liệt. Văn bia chùa Hưng Phúc (tại địa phương) ghi rõ: “Hữu tướng giặc là Toa Đô tiến quân vào hương này. Ông đem người ở Hương chặn giặc ở bến Cổ Bút. Hai bên đánh nhau, giặc cơ hồ không rút chạy được. Nhưng vì có kẻ gian hàng giặc chỉ đường nên nhà cửa của ông bị đốt phá”.


    Ngày 13-3, Trần Kiện lại dẫn đường cho bọn Giảo Kì tiến đánh quân Chiêu Minh vương Quang Khải ở bến Phú Tân. Cuộc chiến đấu ác liệt, có sự tham gia của Văn Túc vương Đạo Tái (con Trần Quang Khải) và tá thiên vương Đức Việt (con Thánh Tông). Một số võ quan như Chiêu Hiến vương (không rõ tên) và đại liêu Hộ hy sinh. Chưa thể chặn bước tiến của giặc, Trần Quang Khải cho lùi quân.


    Giữa tháng 3-1285, chiến cuộc vẫn gay go phức tạp. Quân Trần tiến về Thăng Long, nhưng sau trận thử sức lại phải lui. Thoát Hoan lại thúc quân đánh xuống Thiên Trường. Trần Quốc Tuấn lại rút quân từ Vạn Kiếp về Thiên Trường. Cuộc rút quân thật tài tình; ông cho quân xuống phía đông ở các lộ ven biển, chờ quân Toa Đô tiến ra phía bắc thì vượt biển vào Thanh Hoá.


    Vua Trần theo sông Hồng ra cửa Giao Hải (cửa sông Hồng ở Giao Thuỷ, Nam Định) rồi ngược lên phía bắc quay vào nguồn Tam Trĩ (Ngã Ba Chẽ, Quảng Ninh) để đánh lừa giặc. Ngày 7/4/1285, vua Trần hành quân bộ từ Tam Trĩ về Thuỷ Chú (khoảng huyện lị Yên Hưng, Quảng Ninh) rồi đi thuyền ra cửa Nam Triêu vào Thanh Hoá. Ngày 15/4, giặc Nguyên đuổi đến Tam Trĩ thì vua Trần đã ra khỏi nơi đây.
    Khi đại quân rút lui khỏi thiên trường, một số quý tộc dao động, hèn nhát đầu hàng giặc như Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc, Văn Nghĩa hầu Trần Tú Hoãn, Văn Chiêu hầu Trần Văn Lộng. Một số quan lại nhà Tống, sau khi mất nước đã chạy sang Đại Việt cũng quay ra đầu hàng quân Nguyên.


    Trên đường vượt biển, Trần Nhân Tông viết lên đuôi thuyền câu thơ:
    “Cối Kê cựu sự quân tu kí
    Hoan Diễn do tồn thập vạn binh”.
    (Chuyện cũ Cối Kê người nên nhớ
    Hoan Châu, Diễn Châu vẫn còn 10 vạn quân)


    Vào lúc ấy, Toa Đô kéo quân từ Thanh Hoá ra Trường Yên (Ninh Bình). Y sai các tướng Tanggutai, Giảo Kì ra Thiên Trường gặp Thoát Hoan báo cáo về tình hình mệt mỏi, khốn quẫn và nhiều thất bại từ ngày ở chiến trận Chămpa. Thoát Hoan lại ra lệnh cho Toa Đô đóng quân ở Trường Yên tự “kiếm lương ăn” (có nghĩa là cho phép Toa Đô thả quân cướp bóc). Vậy là cả hai đạo quân Thoát Hoan và Toa Đô đều đã hết lương thực, cả hai đều không nuôi nổi mình. Vì vậy nên, như Nguyên sử ghi “Toa Đô vẫn phải đóng cách đại doanh hơn 200 dặm”. Chúng vẫn phân tán mà hậu cần mang theo lại cạn kiệt. Tình hình ngày càng căng thẳng.


    Biết vua Trần đã vào Thanh Hoá, Thoát Hoan lại ra lệnh cho Toa Đô từ Trường Yên vào Thanh Hoá để đuổi theo quân ta. Ô Mã Nhi còn phải đưa 60 chiếc thuyền với 1300 quân phối hợp với Toa Đô. Toa Đô gượng gạo lên đường. Binh sĩ ốm yếu, đói khát hành quân chậm chạp, thậm chí có bộ phận ở lì lại Trường Yên, Toa Đô không thực hiện được mệnh lệnh của Thoát Hoan.


    Vào cuối tháng 4-1285, nắng hè đổ xuống, “quân Nguyên vốn ở vùng khô, lạnh giờ đây bị đau ốm liên miên gặp lúc nắng mưa, bệnh dịch hoành hành. Rồi mùa mưa ập đến lại làm cho chúng thêm khốn khổ “nước lụt dâng to, ngập ướt doanh trại”.
    Tháng 5-1285, Thoát Hoan sai Manglai Siban (Minh Lý Tí Tích Ban) đưa bọn phản bội Trần Kiện, Trần Tú Hoãn sang Trung Quốc. Khi chúng đến Lạng Sơn thì gặp đội dân binh Tày do Nguyễn Thế Lộc và em là Nguyễn Lĩnh tập kích tại trại Ma Lục vùng Chi Lăng. Cả bọn Việt gian cùng quân hộ tống đều bị bao vây. Nguyễn Địa Lô, gia nô trung thành của Trần Hưng Đạo bắn chết Trần Kiện. Thuộc hạ của Kiện là Lê Trắc ôm xác Kiện chạy đến Khâu Ôn mới chôn.


    Tháng 5-1285, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật, cùng nhiều tướng lĩnh khác đưa binh thuyền ra Bắc. Chiến lược phản công bắt đầu.


    Mục tiêu trước hết của quân ta là đánh tan các đồn trại của quân giặc ở vùng Khoái Châu (Hưng Yên). Đánh tan các đồn trại là chia cắt được quân Thoát Hoan và quân Toa Đô, đồng thời uy hiếp trực tiếp Thoát Hoan, tiếp tục đẩy quân Thoát Hoan vào thế cô lập bị động. Bộ phận quân Nguyên đóng ở dọc sông Hồng có quân của Toa Đô do Giảo Kỳ chỉ huy. Chúng đã bị thua ở Chămpa chạy ra Thanh Hoá rồi đến Trường Yên, sau đó ra Thiên Trường nên mệt mỏi. Vua Trần đã nhận xét “quân giặc đi xa nhiều năm, lương thảo chuyên chở hàng vạn dặm, thế tất mệt mỏi. Lấy nhàn chống mệt, trước hãy làm chúng nhụt chí, thì ắt đánh bại được”.


    Đồng thời, trong kế hoạch phản công, Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn lại tự mình đảm nhiệm công việc kéo quân lên vùng Bắc Giang diệt địch trên con đường tháo chạy. Biết chắc kế hoạch phản công nhất định thắng lợi, ông để các tướng Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật đánh vào đến trại của giặc ở dọc sông Hồng rồi tiến lên giải phóng Thăng Long; còn tự mình cầm đại quân hợp vây diệt địch.


    Trên đường tiến về Vạn Kiếp, quân Trần Quốc Tuấn đánh chiếm đồn A Lỗ ở mạn sông Luộc tiếp giáp sông Hồng. Tướng giặc là Vạn hộ Lưu Thế Anh bỏ chạy về Thăng Long. Đây là đồn quan trọng của giặc ở ven biển Thiên Trường.


    Vào cuối tháng 5- 1285, đạo quân của Trần Quang Khải ngược sông Hồng đánh vào 2 cứ điểm quan trọng nhất của địch là Tây Kết và Hàm Tử. Tây Kết và Hàm Tử là 2 địa điểm bên tả ngạn sông Hồng, cách nhau 2 km, gần bãi Màn Trù (Khoái Châu, Hưng Yên). Chiêu Thành vương (không rõ tên), tướng quân Nguyễn Khoái và Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản chỉ huy quân đánh Tây Kết. Đồn Tây Kết bị diệt; đồng thời Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật cùng các tướng khác đánh vào Hàm Tử.


    Trong đội quân của Trần Nhật Duật lại có nhiều binh sĩ nhà Tống. Khi đóng quân ở lộ Tuyên Quang, Nhật Duật đã thu nhận họ. Họ là những người mong muốn đánh được quân Mông Nguyên, nên khi sang Đại Việt, họ kề vai với quân dân ta chiến đấu chống kẻ thù chung. Trong số đó có Triệu Trung làm gia tướng của Nhật Duật đã chiến đấu dũng cảm ở trận Hàm Tử, lập công lớn.


    Cùng thời gian đó, Trần Quang Khải và các tướng khác đánh vào căn cứ Chương Dương (bên hữu ngạn sông Hồng, đối diện với Hàm Tử, nay thuộc địa phận làng Chương Dương, Thường Tín Hà Tây). Phối hợp với quân Trần Quang Khải còn có đạo dân binh ở các lộ kéo về do Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp và Nguyễn Truyền chỉ huy. Cứ điểm Chương Dương của giặc bị tiêu diệt nhanh chóng, tàn quân địch rút về Thăng Long.


    Sau các chiến thắng Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, quân ta tiến lên bao vây Thăng Long, quân thuỷ bộ từ các mặt áp sát, tiến công dữ dội. Địch ra sức cố thủ. Sử liệu Trung Quốc ghi “quân thuỷ và quân bộ tiến đánh đại doanh, vây quanh thành mấy vòng”. Tuy tử trận nhiều, nhưng quân tăng thêm càng đông, Quan quân (chỉ quân Nguyên) cố đánh từ sáng đến tối, mệt mỏi, thiếu thốn, khí giới đều hết.
    Trước tình cảnh hiểm nghèo, chúng liều chết phá vây vượt sông Hồng chạy sang Gia Lâm. Kinh thành Thăng Long sau mấy tháng bị chiếm đóng nay được hoàn toàn khôi phục.


    Toán quân Giảo Kỳ và Tanggutai bị đánh ở dọc sông Hồng, đến ngày 9/6/1285 kéo đến Thăng Long tìm gặp Thoát Hoan. Nhưng Thoát Hoan đã bị bại, chạy sang Gia Lâm. Giảo Kỳ đụng đầu với quân ta ở Thăng Long, hoảng sợ bỏ chạy sang Gia Lâm tìm gặp Thoát Hoan. Thoát Hoan ra lệnh rút quân.


    Sức đã tàn, thế đã yếu, Thoát Hoan rút theo hướng Vạn Kiếp. Hưng Đạo vương Quốc Tuấn và Hưng Ninh vương Trần Tung chỉ huy 1 vạn quân chặn đánh. Cuộc chiến đấu quyết liệt có lẽ vẫn diễn ra ở vùng Quế Võ (Bắc Ninh). Vạn hộ Lưu Thế Anh, tên tướng trước đó đã bị thua ở trận A Lỗ, giờ đây giữ chức tiên phong lại bị đánh tơi bời. Cả đạo quân của Thoát Hoan phải chạy sang phía sông Như Nguyệt (Bắc Ninh) hòng trốn tránh chủ lực ta. Như đường đi của Thoát Hoan cũng không ngoài dự kiến của Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn.


    Quân Thoát Hoan đang cố vượt qua sông Như Nguyệt thì gặp ngay quân của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản đổ ra đánh. Đạo quân của người anh hùng trẻ tuổi này lại lập chiến công. Bị đánh vào lúc đang vượt sông, quân Nguyên bị tổn thất nặng.
    Thua đau ở Như Nguyệt, quân Thoát Hoan chạy sang Vạn Kiếp. Đến đây chúng sa vào cạm bẫy phục kích của Tiết chế Trần Quốc Tuấn bố trí trước. Sông Thương chặn trước mặt, giặc lại bắc cầu phao. Đợi khi đại quân giặc đang qua cầu, quân ta đổ ra đánh mạng ngang sườn. Bị bất ngờ, đội ngũ giặc rối loạn, chúng xô đẩy nhau. Cầu phao bị đứt, số lớn bị đổ xuống sông chết đuối, quân đi sau cũng bị tập kích chết rất nhiều, Tanggutai thoát chết.


    Chiến thắng Vạn Kiếp làm cho đại quân Thoát Hoan hoảng loạn, tiền quân tan tác, hậu quân rệu rã. Thoát Hoan phải sai Lý Hằng cố gắng chỉ huy đám tàn quân này và mở đường máu chạy về biên giới Lạng Sơn.


    Trên đất biên giới, quốc công tiết chế đã bố trí quân chặn giặc ở các cửa ải hiểm yếu đợi chúng. Tại Vĩnh Bình, quân của Hưng Vũ vương Hiến đang phục sẵn. Giặc vừa tới, tên thuốc độc bắn xối xả, tướng giặc hoảng sợ phải giấu Thoát Hoan vào ống đồng khiêng chạy. Lý Hằng bị tên thuốc độc bắn vào đầu gối trái, được một vệ sĩ cõng tới biên giới. Tì tướng của Hằng là Lý Quán cũng bị quân của Hưng Vũ vương bắn chết.
    Cùng lúc đó ở biên giới phía tây bắc, tàn quân của Naxirút Đin cũng tìm đường về Vân Nam, khi qua huyện Phù Ninh (nay thuộc Phong Châu, Phú Thọ), lại gặp đội dân binh của phụ đạo Hà Đặc. Đây là lực lượng vũ trang của dân tộc thiểu số chiến đấu rất ngoan cường. Sách Toàn thư chép “Giặc đến huyện Phù Ninh, mà phụ đạo huyện ấy là Hà Đặc lên núi Trĩ Sơn cố thủ. Giặc đóng ở động Cự Đà (có thể là xã Tử Đà huyện Phong Châu, Phú Thọ). Hà Đặc lấy tre đan thành những hình người to lớn cứ đến chiều tối thì dẫn ra dẫn vào. Lại dùi thủng cây to cắm tên lớn vào giữa lộ, để giặc ngờ là có sức bắn khoẻ xuyên suốt được. Giặc sợ không dám đánh nhau với Đặc, quân ta hăng hái xông lên đánh bại được giặc. Đặc đuổi đánh đến A Lạp bắc cầu phao qua sông, hăng hái quá bị tử trận. Em là Chương bị giặc bắt, lấy trộm được cờ xí, y phục của giặc trốn về, đem dâng lên, xin dùng cờ xí giả làm quân giặc đến trại giặc. Giặc không ngờ là quân ta, do vậy đã cả phá được chúng”.


    Khi quân chủ lực của Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn đang tổ chức những trận đánh tiêu diệt đạo quân Toa Đô, thì ngày 24/6/1285, đại quân của nhà vua tiến công quyết liệt vào đoàn thuyền Toa Đô, tướng giặc Trương Hiền đầu hàng. Đồng thời cũng ở Tây Kết, quân ta lại phá tan được binh thuyền giặc. Toa Đô bị chém đầu. Ô Mã Nhi và Lưu Khuê lấy thuyền nhẹ chạy ra biển.


    Đến đây, sau một tháng liên tục phản công quyết liệt bằng những trận quyết chiến, quân ta đã lập nên những chiến công vang dội có ý nghĩa chiến lược. Các trận Tây Kết, Hàm tử, Chương Dương, Thăng Long, Vạn Kiếp, đã tiêu diệt và quét sạch 50 vạn quân xâm lược ra khỏi bờ cõi Tổ quốc.


    Cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên năm 1285 đã kết thúc thắng lợi.
    Ngày 9- 7- 1285, thượng hoàng Thánh Tông và vua Nhân Tông cùng triều đình và quân dân tiến vào đô thành Thăng Long. Nhìn lại những chiến công chói lọi, tự hào và tin tưởng vào đất nước hùng mạnh, thượng tướng thái sư Chiêu Minh vương Trần Quang Khải đã viết bài thơ khải hoàn: “Đoạt sáo Chương Dương độ Cầm Hồ Hàm tử quan Thái Bình tu nỗ lực Vạn cổ cựu giang san''.

    5. Kháng chiến lần thứ ba (1288)

    chong_ngiuen_lan__hai_500_01 

    Hai lần xâm lược, hai lần bị thất bại thảm hại,vua Nguyên Hốt Tất Liệt mất mặt, tức tối muốn tổ chức ngay cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ ba hòng trả thù, đồng thời cũng để gấp rút đánh thông con đường bành trướng xuống Đông Nam Á. Hốt Tất Liệt bãi bỏ kế hoạch đánh Nhật Bản đã được chuẩn bị từ trước để tập trung lực lượng cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần này.

    luoc_do_dien_bien_lan_thu_ba_chong_quan_nguyen_1287_-_12881.__500

     Lược đồ diễn biến  cuôc kháng chiến lần thứ ba  chống quân Nguyên(1287-1288)

    Toàn bộ quân viễn chinh lần thứ ba lại đặt dưới quyền thống lãnh của thân vương Thoát Hoan với tước hiệu Trấn Nam vương như cũ. Khác với hai lần trước, lần này ngoài bộ binh (bao gồm cả kị binh), nhà Nguyên còn dùng một lực lượng thuỷ binh khá mạnh và mang theo lương thực đầy đủ. Với tổng số khoảng 30 vạn quân chúng chia thành ba đạo:

    -  Đạo quân do Thoát Hoan chỉ huy từ Quảng Tây theo đường Lạng Sơn tiến vào.

    Đạo quân do Ái Lỗ chỉ huy từ Vân Nam theo sông Hồng tiến xuống.

    -  Đạo quân thuỷ do Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp chỉ huy với hơn 600 chiến thuyền từ Quảng Đông vào vịnh Hạ Long theo sông Bạch Đằng tiến vào hội quân ở Vạn Kiếp (Chí Linh- Hải Dương).

    Ngoài ra, có một đoàn thuyền vận tải do Tương Văn Hổ giữ chức Giao Chỉ hải thuyền Vạn hộ cầm đầu, chở 70 vạn thạch lương theo sau.

    Các tướng giặc chỉ huy cuộc viễn chinh lần thứ ba đều là những tên thiện chiến, hầu hết rất quen thuộc với chiến trường Đại Việt. Thoát Hoan giữ chức Tiết chế tổng chỉ huy là kẻ cầm đầu cuộc xâm lược lần trước.

    Khác với lần trước, lần này bọn xâm lược đặc biệt chú trọng thuỷ quân. Trong chiến tranh lần thứ hai, chúng dùng thuỷ quân khá nhiều, nhưng tác dụng chẳng được bao nhiêu. Lần này đem quân vào một nước sông ngòi chằng chịt, chúng lại tăng cường thuỷ quân rất mạnh, thành một đạo quân chiến lược dưới quyền chỉ huy của những tên tướng dày kinh nghiệm.

    Lần thứ hai Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn lại được cử làm Quốc công tiết chế lĩnh sứ mệnh tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang. Qua kinh nghiệm dày dạn phong phú của hai cuộc kháng chiến trước, ông đề ra kế hoạch đánh giặc rất chủ động. Buổi đầu trước thế mạnh của địch, quân ta rút về ven biển để bảo toàn lực lượng. Nhưng khắp nơi, nhân dân trên đường tiến quân của giặc và trong vùng chiếm đóng đều được lệnh cất giấu lương thực, kiên quyết triệt nguồn tiếp lương của chúng, đồng thời cùng với dân binh đẩy mạnh hoạt động đánh địch làm cho chúng tiêu hao sinh lực, ăn không ngon, ngủ không yên, đẩy quân địch lâm vào thế bị động.

    Được tin giặc sắp tràn vào biên giới, vua Trần Nhân Tông hỏi Trần Quốc Tuấn: “Giặc tới, liệu tình hình thế nào?” Vị tiết chế khẳng định: “Năm nay đánh giặc nhàn”.

    Lần này Trần Quốc Tuấn và triều đình rất chú trọng đến chiến trường ven biển Đông Bắc. Đó là đường tiến quân của thuỷ quân và đoàn thuyền tải lương của giặc. Phó tướng Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư được Hưng Đạo vương giao cho mọi công việc về biên thuỳ ven biển và Phán thủ thượng vi Nhân Đức hầu Trần Toàn có nhiệm vụ ngăn chặn thủy quân giặc.

    Vùng biển Đông bắc, thuỷ binh của Ô Mã Nhi bị quân ta đánh ở Ngọc Sơn (Mũi Ngọc , Quảng Ninh). Thuỷ quân do Trần Toàn chỉ huy đã đặt phục binh trước, nhưng vì tương quan lực lượng rất chênh lệch, quân địch khí thế đang hăng nên đạo quân của Trần Toàn, có nhiệm vụ tiêu diệt đội thuyền đi sau của chúng. Trận Mũi Ngọc quân dân thu được thắng lợi lớn “giặc chết đuối rất nhiều, ta bắt sống 40 tên và thu được thuyền, ngựa, khí giới, đem về dâng”. Tuy có bị một số thiệt hại như vậy, nhưng lực lượng thuỷ binh của Ô Mã Nhi vẫn rất mạnh, chúng vượt qua vùng biển Hạ Long và An Bang (Quảng Ninh) và gặp quân phục kích của Trần Khánh Dư. Tại đây đã diễn ra trận giao chiến khá quyết liệt, nhưng không ngăn cản được đạo quân của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp. Chúng ngược sông Bạch Đằng kéo vào Vạn Kiếp hội quân với Thoát Hoan. Đến đầu tháng hai năm 1288 quân số địch ở Vạn Kiếp tăng lên 30 vạn.

    Tin Trần Khánh Dư thất trận về tới triều đình, thượng hoàng Trần Thánh Tông sai quan đến trách hỏi. Trần Khánh Dư thưa “Lấy quân pháp mà xử, tôi cam chịu tội, nhưng xin khất hai, ba ngày để mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn”. Ông biết chắc rằng theo sau đạo binh thuyền của Ô Mã Nhi còn có đoàn thuyền lương 70 vạn thạch do Trương Văn Hổ chỉ huy. Bởi vậy Trần Khánh Dư khẩn trương chuẩn bị cho trận phục kích mới ở Vân Đồn - Cửa Lục.

    Một ngày thượng tuần tháng 2, đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ theo gió mùa đông bắc nặng nề tiến vào trận địa mai phục của ta. Dưới sự chỉ huy của Trần Khánh Dư, quân ta tiêu diệt sạch đoàn thuyền lương của chúng. Chủ trương hai thuyền Vạn hộ họ Trương vội vã lấy một thuyền nhẹ chạy tháo mạng về Quỳnh Châu (đảo Hải Nam, Trung Quốc).

    Chiến thắng Vân Đồn- Cửa Lục đánh vào chỗ yếu có tính chất chiến lược của địch, làm phá sản từ đầu kế hoạch tiếp tế lương thực của Thoát Hoan, tạo điều kiện thuận lợi cho quân dân ta nhanh chóng chuyển lên phản công chiến lược. Các nhà sử học thời Lê nhận xét: “Cho nên, năm này vết thương của dân không thảm như năm trước. Khánh Dư có phần công lao trong đó”.

    Trận Vân Đồn trên Vịnh Hạ Long: Trần Khánh Dư cướp được thuyền lương địch làm giặc Nguyên lo sợ nhốn nháo.

    Về phía địch, sau cuộc hội quân thủy, bộ ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan cố xây dựng vùng đất này thành một căn cứ quân sự. Y để một số quân đóng giữ Vạn Kiếp rồi đưa đại bộ phận lực lượng tiếp tục tiến về Thăng


    Nhắn tin cho tác giả
    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 09:16 26/02/2011
    Số lượt xem: 6735
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến