Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    Anh_Van_Giao_Tiep_Cho_Nguoi_Hoan_Toan_Mat_Goc___Ruby_Thao_Tran.flv NoiNayCoAnhSonTungMTP4772041.mp3 Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf Bai_ca_nguoi_giao_vien_nhan_dan.swf

    Thành viên trực tuyến

    8 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Bài viết > Lưu giữ kỉ niệm >

    Từ Lũng Nhai đến Đông Quan -- một chặng đường lịch sử

    Từ Lũng Nhai đến Đông Quan -- một chặng đường lịch sử
      
    hoi_the_lung_n_hai_31619 
     
    Vào đầu thế kỷ XV, nhà Minh tập trung 80 vạn quân ồ ạt tiến vào xâm chiếm nước ta. Năm 1407, sau khi chiếm được Đông Đô (Hà Nội), nhà Minh đổi tên nước ta thành quận Giao Chỉ, lập chính quyền theo mô hình chính quốc và đặt quan cai trị đàn áp dân ta, vơ vét sản vật và đổi tên Đông Đô thành Đông Quan.
        Hai mươi năm dưới thời Minh thuộc, nhân dân ta phải gánh chịu một thảm họa vô cùng tàn khốc và cay đắng nhất trong lịch sử dân tộc. Nền văn hiến lâu đời của quốc gia Đại Việt đứng trước nguy cơ hủy diệt.
     
        Tại miền núi rừng Lam Sơn, Lê Lợi ngày đêm nung nấu một quyết tâm đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi. Vào ngày đầu tháng Hai năm Bính Thân (1416), Lê Lợi cùng 18 người bạn chiến đấu tâm huyết nhất là Lê Lai, Lê Thận, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Trịnh Khả, Trương Lôi, Lê Liễu, Bùi Quốc Hưng, Lê Ninh, Lê Hiểm, Vũ Uy, Nguyễn Trãi, Đinh Liệt, Lê Nhân Chú, Lê Bồi, Lê Lý, Đinh Lan, Trương Chiến đã lặng lẽ cùng nhau đến làng Lũng Nhai (tức Lũng Mi, tên nôm là làng Mé, nay thuộc xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân) làm lễ tế cáo trời đất, kết nghĩa anh em quyết tâm đánh giặc cứu nước. Sử gọi sự kiện này là Hội thề Lũng Nhai.
     
        Làng Lũng Nhai cách Lam Sơn hơn 10 km về phía Tây, là địa điểm kín đáo nằm sâu trong rừng núi có sông Âm bên hữu ngạn, sông Lương ở phía tả ngạn. Trong không khí nghiêm trang của hội thề, trước thần linh sông núi, Lê Lợi tuyên đọc lời thề:
     
        “...Tôi là phụ đạo Lê Lợi cùng với Lê Lai đến Trương Chiến 19 người. Tuy họ hàng quê quán khác nhau, nhưng kết nghĩa thân nhau như một tổ liền cành. Phận vinh hiển đều có khác nhau, mong có tình như cùng chung một họ. Có kẻ bằng đảng xâm chiếm nước ta, qua cửa quan làm hại, nên Lê Lợi cùng Lê Lai đến Trương Chiến, 19 người chung sức đồng lòng, gìn giữ đất nước làm cho xóm làng được ăn ở yên lành. Thề sống chết cùng nhau, không dám quên lời thề son sắt... Nếu như Lê Lợi cùng Lê Lai  đến Trương Chiến sinh lòng này khác, cầu ơn hiện tại, núp bóng quân thù, không cùng một lòng, quên lời thề ước, chúng tôi nguyện trời đất và các thần linh giáng trăm tai ương trị bản thân cho đến họ hàng, con cháu đều bị tru diệt, chịu hết hình phạt của trời”. (Lam Sơn thực lục).
     
        Lời thề do phụ đạo Khả Lam Lê Lợi đọc trong buổi lễ thiêng liêng ở Lũng Nhai được coi như bản tuyên ngôn hành động của những hạt nhân tiêu biểu đầu tiên của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Kể từ đó, Lê Lợi và các “anh hùng Lũng Nhai” tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tiến hành khởi nghĩa. Bọn tướng giặc Trương Phụ, Trần Trí, Mã Kỳ rắp tâm theo dõi và tìm mọi cách mua chuộc. Trung thành với lời thề, bề ngoài Lê Lợi lo lót của cải tỏ ra “qui phục”, nhưng bên trong vẫn ngấm ngầm chuẩn bị lực lượng chờ đợi thời cơ. Khi điều kiện đã chín muồi. Lê Lợi đã họp bộ tham mưu quyết định khởi nghĩa.
     
        Ngày mồng 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất (7-2-1418), trong không khí ngày tết Nguyên Đán cổ truyền của dân tộc, Lê Lợi cùng toàn thể nghĩa quân dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn. Lê Lợi tự xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi kêu gọi nhân dân cùng đứng lên quét sạch ngoại xâm.
     
        Từ những cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ trong miền núi rừng Thanh Hóa, năm 1424, chuyển hướng vào xây dựng “đất đứng chân” ở Nghệ An, nghĩa quân Lam Sơn đã nhanh chóng giải phóng được vùng đất từ Thanh Hóa trở vào Nam và cuối năm 1426 bắt đầu mở cuộc tiến công ra Bắc, làm nên chiến thắng lừng lẫy ở Ninh Kiều, Tốt Động - Chúc Động tiêu diệt và bắt sống hơn 6 vạn quân địch và chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang (tháng 11 - 1427) tiêu diệt hơn 10 vạn viện binh của Liễu Thăng, buộc Tổng binh Vương Thông ở thành Đông Quan phải quì gối xin cầu hòa rút quân về nước.
     
        Ngày 10 tháng 12 năm 1427 (22 - 11 Đinh Mùi), tại một địa điểm phía Nam thành Đông Quan, phái đoàn quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo và các tướng Trần Nguyên Hãn, Lưu Nhân Chú, Phạm Vấn, Lê Ngân, Phạm Văn Xảo, Bùi Bị, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Nguyễn Lý, Phạm Bối, Lê Văn An, Bế Khắc Thiện, Ma Luân; phái đoàn quân Minh do Thành sơn hầu Vương Thông cầm đầu cùng các tướng Mã Anh, Sơn Thọ, Mã Kỳ, Trần Trí, Lý An, Phương Chính, Trần Tuấn, Trần Hựu, Chu Kỳ Hân, Quách Vĩnh Thanh, Dực Khiêm, Lục Quảng Bình, Hồng Binh Lương, Lục Chinh, Dương Thời Tập, Quách Đoán đã tổ chức hội thề, sử gọi là Hội thề Đông Quan.
     
        Trong hội thề, bại tướng nhà Minh là Vương Thông đã tuyên thề: “đem quân về nước, không thể kéo dài năm tháng để đợi viện binh” và “nếu tự trái lời thề... thì trời đất cùng danh sơn, Đại Xuyên và thần kỳ các xứ tất đem bọn quan Tổng binh Thành sơn hầu Vương Thông từ bản thân cho đến cả nhà, thân thích làm cho chết hết và cả đến quan quân cũng không một người nào về được đến nhà”. “Lê Lợi thề cung cấp lương thực, thuyền bè, sửa sang đường sá cho quân Minh an toàn rút lui về nước” (Nguyễn Trãi - toàn tập). Đây là lần đầu tiên trong lịch sử quân và dân ta bằng thắng lợi vẻ vang của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, buộc đối phương là một đế chế lớn mạnh phải chấp nhận và thực thi nghi lễ thua trận như vậy.
     
        Thực hiện lời thề, ngày 29-12-1427 (ngày 12-12 Đinh Mùi) khoảng 5 vạn quân Minh ở Đông Quan bắt đầu rút quân và ngày 3-1-1428 (ngày 17-12 Đinh Mùi) thì bộ phận bộ binh cuối cùng do Vương Thông chỉ huy cũng rời khỏi Đông Quan. Đêm hôm trước, bại tướng nhà Minh xin gặp Lê Lợi, Đại Việt sử ký toàn thư chép  “Thông cùng Vua nói chuyện từ biệt suốt đêm rồi đi. Vua sai đưa trâu rượu cờ thêu, trướng vẽ cùng các lễ vật tiễn chân rất hậu”. Từ đó, thành Đông Quan hoàn toàn được giải phóng, đất nước ta sạch bóng quân xâm lược.
     
        Trong khí thế oai hùng của ngày chiến thắng, Lê Lợi đã đọc “Bình Ngô đại cáo” tổng kết chiến tranh, khẳng định chủ quyền dân tộc của một quốc gia đã có hàng ngàn năm lịch sử.
     
        Ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân - 1428, Bình Định Vương Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở điện Kính Thiên, đóng đô ở Đông Đô, khôi phục quốc hiệu Đại Việt, lấy niên hiệu là Thuận Thiên. Vua Lê Thái tổ là vị Hoàng đế sáng lập triều Lê sơ. Vương triều này tồn tại từ năm 1428 đến năm 1527 với 13 đời vua.
     
        Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn được chuẩn bị từ Hội thề Lũng Nhai năm 1416 và được kết thúc thắng lợi bằng Hội thề Đông Quan năm 1427 “mở nền thái bình muôn thuở, tắt muôn đời chiến tranh”, là cuộc trường chinh đầy hy sinh gian khổ nhưng rất đỗi tự hào của dân tộc ta.
     
    Sư tầm  

    Nhắn tin cho tác giả
    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 11:30 20/01/2009
    Số lượt xem: 4410
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến