Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    NoiNayCoAnhSonTungMTP4772041.mp3 Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf Bai_ca_nguoi_giao_vien_nhan_dan.swf Clock_hoacucvang_thang111.swf

    Thành viên trực tuyến

    3 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Văn hóa - Nghệ thuật >

    10 thế kỷ đầu công nguyên đấu tranh chống Bắc thuộc (thế kỷ I đến thế kỷ X)

    Vào khoảng thế kỷ I - II trước Công Nguyên, lịch sử, văn hóa Việt Nam bước vào một giai đoạn mới với những thách thức to lớn, đó là giai đoạn Bắc thuộc kéo dài hàng nghìn năm. Mở đầu là những cuộc chinh phạt, thôn tính lẫn nhau giữa các quốc gia phía Nam Trung Quốc mà các sử gia gọi là Bách Việt. Tiếp đó là sự đô hộ của các triều đại phong kiến kế tiếp nhau từ Hán tới Đường. Về hình thức tổ chức, hành chính cũng như chế độ chính sách cai trị có thể thay đổi khác nhau theo từng triều đại phong kiến đô hộ, nhưng sự hà khắc về chính trị, kinh tế cùng sự cưỡng bức đồng hóa về văn hóa là nhất quán trong suốt thời Bắc thuộc.

    Tính kiên cường của người Việt chống lại sự đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc thể hiện khá đa dạng với nhiều hình thức khác nhau, lúc cao trào, khi thoái trào mà đỉnh cao là các cuộc khởi nghĩa diễn ra thường xuyên trong suốt thời Bắc thuộc. Dù thành công hay thất bại đều là những bài học quý giá hun đúc tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam. Cấu trúc văn minh, văn hóa Đông Sơn của người Việt cổ tan vỡ trước sự đô hộ của các đế chế Trung Quốc với nền văn hóa - văn minh lớn. Người Việt cổ trên nền tảng vững chắc của văn minh lúa nước đã được khẳng định, nhanh chóng cấu trúc lại, tạo lập được cơ chế linh hoạt có thể hấp thu được dù cưỡng bức hay tự nguyện những yếu tố văn hóa mới tạo nên sự đan xen văn hóa. Các mảnh vỡ của nền văn minh Đông Sơn vẫn tiềm tàng trong cơ cấu xã hội làng xóm của người Việt cổ, để khi Khúc Thừa Dụ giành được độc lập năm 905 thì nền văn minh mới của người Việt: Văn minh Đại Việt được xác lập.

    1. Tình hình chính trị và những chuyển biến về kinh tế, văn hóa, xã hội

    1.1. Chính sách đô hộ của các triều đại phương Bắc

    Thời kỳ Bắc thuộc kéo dài gần 1000 năm, trải qua các triều đại Triệu, Hán (Tây Hán và Đông Hán), Ngô, Nguỵ, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tuỳ, Đương kế tiếp nhau xâm chiếm và đô hộ, biến Âu Lạc thành quận huyện, đồng hoá dân tộc, bóc lột tàn tệ, và triệt để nhân dân. Chính sách cai trị ở từng thời kỳ có khác nhau nhưng cùng chung mục đích trên. Đứng đầu là Thứ sử (đứng đầu bộ), tiếp theo các Thái thú (đứng đầu các quận), bên cạnh đó có viên Đô uý phụ trách quân sự.

    Luy Lâu - một trong những Trị sở của chính quyền Đông Hán

    Chùa Dâu - một trong những trung tâm Phật giáo của Giao Chỉ  thời Bắc thuộc

     

    Đền thờ Sỹ Nhiếp ở Bắc Ninh  -một trong những người đẩy mạnh việc truyền bá Nho giáo vào Việt Nam

    Đền "Nam Giao học tổ"  tại Luy Lâu- nơi thờ Sĩ Nhiếp

     

    Toàn cảnh mộ gạch đời Đông Hán ở Đống Vằn, An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội (khai quật năm 2005)

    Cửa mộ gạch cuốn đời Đông Hán ở Hố Vàng, xã Sông Khoai, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh

    Mộ gạch đời Đông Hán  ở Nghi Vệ  (Bắc Ninh), khai quật  đầu thế kỷ XX

    Mộ gạch đời Đông Hán ở Dục Tú, Đông Anh (Hà Nội)

    Mộ gạch đời Đông Hán ở Lạc Ý, Phúc Yên (Vĩnh Phúc)

     

    1.2. Những chuyển biến về kinh tế, xã hội, văn hóa

    Các ngành nghề kinh tế (nông nghiệp, thủ công nghiệp như nghề gốm, rèn sắt, đúc đồng…) vẫn khá phát triển, phân hóa xã hội rõ rệt.

     

    Mộ thuyền ở Thành Dền, Hải Phòng, thế kỷ I tr.CN - I s.CN

    Khay, đĩa bằng gỗ có dấu sơn, chứng minh nước ta bấy giờ là một trong những trung tâm của nghề làm đồ sơn (Hiện vật mới phát hiện ở mộ Thành Dền - Hải Phòng)

     

     

    Mô hình nhà bằng đất nung trong mộ gạch đời Đông Hán, thế kỷ I – III

    Bếp lò và nồi chõ minh khí bằng đất nung trong mộ gạch đời Đông Hán, thế kỷ I - III

    Năm nồi dính nhau bằng đất nung, đồ tuỳ táng trong mộ gạch đời Đông Hán, thế kỷ I - III

     

    Chậu đồng, chậu gốm có dính các xâu tiền cổ - phát hiện trong khi khai quật mộ đời Đông Hán, thế kỷ II – III

    Gương đồng, thế kỷ II - III (đồ tuỳ táng)

    Cốc đốt trầm bằng đồng trong mộ gạch đời Đông Hán, thế kỷ II – III (đồ tuỳ táng)

    Chậu trống bằng đồng có trang trí hoa văn Đông Sơn, thế kỷ II – III (đồ tuỳ táng)

    Ấm vòi hình đầu gà, gốm men, thế kỷ II - III, (đồ tuỳ táng)

     

    Tượng động vật, gốm men, thế kỷ III - IV, đồ tuỳ táng

    Ấm đồng đời Đường, thế kỷ VI - VII

     

    Bình hình gà, hũ, gốm men, thế kỷ 7-9

     

    Lò nung gốm  Đương Xá - Bắc Ninh, thế kỷ  IX - X

    Những phế phẩm bằng gốm và đất nung từ lò gốm Đương Xá, Bắc Ninh - Dấu tích của lò sản xuất gốm, thế kỷ IX - X

    Sức sống của văn hóa Đông Sơn vẫn được giữ vững.

    Hoa văn Đông Sơn trang trí trên rìa cạnh viên gạch đời Đông Hán ở Hố Vàng, xã Sông Khoai, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh

    Hoa văn Đông Sơn trang trí trên rìa cạnh viên gạch xây mộ đời Đông Hán ở Đống Vằn, An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội

     

    Trống đồng loại II có in một số hoa văn Đông Sơn

    2. Các phong trào đấu tranh vũ trang giành độc lập của nhân dân

    2.1. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40 – 43)

    Bài trích trong sách Hậu Hán thư nói về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng

    Lời thề của Hai Bà Trưng được trích từ sách Thiên nam ngữ lục

     

    Trưng Vương xuất trận

    Dấu tích một đoạn thành Mê Linh, Vĩnh Phúc

    Đoạn thành Mê Linh - Vĩnh Phúc khai quật năm 2004

    Tượng thờ Hai Bà Trưng  ở chùa Đồng Nhân (Hà Nội)

    Đền thờ Hai Bà Trưng ở Hạ Lôi (Mê Linh – Vĩnh Phúc)

    2.2. Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu (248)

    Lời thề của Bà Triệu. Bản trích từ sách Việt giám thông khảo tổng luận

    Triệu Trinh Nương xuất trận

     

    Kiếm Núi Nưa, thế kỷ 1 tr.CN được phát hiện tại gần đền thờ Bà Triệu (Thanh Hoá)

     

    Đền thờ và lăng thờ Bà Triệu ở Thanh Hóa

     

    2.3. Khởi nghĩa Lý Bí và Nhà nước Vạn Xuân:

     

    Lý Bí (Lý Nam Đế)_ người đã lập nên Nhà nước Vạn Xuân năm 544

    Bài trích từ sách Hậu Hán thư về thân thế sự nghiệp của Lý Nam Đế

     

    Bức Đại tự tại đền thờ Lý Nam Đế ở Từ Sơn, Bắc Ninh

     

    Chùa Khai Quốc (mở nước) được xây dựng từ thời Lý Nam Đế, nay đổi tên thành chùa Trấn Quốc, nằm trên bán đảo nhỏ của Hồ Tây

    2.4. Các cuộc khởi nghĩa khác

    Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương), đánh tan quân Lương năm 550, đóng đô ở Long Biên

    Đình Phù Sa (Yên Lâm, Yên Mô, Ninh Bình), thờ Triệu Việt Vương là Thành hoàng

    Vua Phùng Hưng (nhân dân ta thường gọi là Bố Cái Đại Vương), đánh tan quân Đường, giành quyền tự chủ cho đất nước từ năm 766 đến năm 791

    Lăng mộ Phùng Hưng tại Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội

     

    Đền thờ Phùng Hưng tại thôn Mông Phụ, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội

    Ban thờ Phùng Hưng, nơi đặt linh vị của ông tại đền thờ ở Đường Lâm

     

    Đền thờ và lăng mộ vua Mai Thúc Loan tại chân núi Rú Đụn, xã Vân Diên, Nam Đàn, Nghệ An

    Triều đại họ Khúc có công đặt dấu chấm hết cho thời Bắc thuộc và xây nền tảng đầu tiên cho kỉ nguyên độc lập và tự chủ mới của nước nhà (905 – 930)

     

     

    Dương Đình Nghệ là người khởi binh đánh đuổi quân Nam Hán

    giải phóng thành Đại La, giành quyền tự chủ cho

    đất nước Việt được 6 năm (931 – 937)

    2.5. Các cuộc khởi nghĩa và xây dựng Nhà nước tự chủ

    Nền độc lập chính trị của Việt Nam được phục hồi sau hơn nghìn năm Bắc thuộc bắt đầu từ Khúc Thừa Dụ năm 905. Buổi ban đầu quả cũng không dễ dàng, ảnh hưởng của văn hóa - chính trị Trung Hoa cùng sự tự tin dân tộc của người Việt đã giúp nước Việt dần khẳng định mình, Ngô Quyền chỉ xưng vương sau chiến thắng Bạch Đằng. Đinh Bộ Linh năm 968 mới xưng đế và đặt tên nước là Đại Cồ Việt, nhưng thủ đô vẫn còn đặt ở vùng núi Hoa Lư (Ninh Bình), mang tính phòng thủ.

    * Kháng chiến chống quân Nam Hán của Ngô Quyền:

    Năm 938, Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng mở ra kỷ nguyên độc lập trên đất nước ta. Năm 939, Ngô Quyền bỏ Tiết độ sứ, xưng Vương, đóng đô ở thành Cổ Loa (Hà Nội).

    Hệ thống chính quyền triều Ngô - Đinh - Tiền Lê

    Triều đại Ngô Vương

    Lược đồ trận đánh của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng năm 938

    Sông Bạch Đằng - nơi Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán năm 938

    Chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng năm 938

     

    Làng cổ Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội, được gọi là "Làng Hai Vua" - một di tích lịch sử và văn hoá được Nhà nước công nhận

    Tam quan đền Cổ Loa. Sau khi chiến thắng quân Nam Hán, Ngô Quyền đóng đô ở Cổ Loa, Hà Nội

    Lăng Ngô Quyền ở Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội

    * Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, xây dựng nước Đại Cồ Việt:

    Năm 944, Ngô Quyền mất. Năm 967, Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, năm sau lên ngôi Hoàng Đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở động Hoa Lư, Ninh Bình. Năm 970, vua đặt niên hiệu Thái Bình.

    Sa bàn toàn cảnh thành Hoa Lư, Trường Yên, Ninh Bình

     

    Toàn cảnh khu trung tâm di tích Cố đô Hoa Lư- Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình

     

    Chùa Nhất Trụ - Ninh Bình

    Cột kinh Phật do Đinh Liễn cho dựng tại chùa Nhất Trụ (Ninh Bình)

     

    Toàn cảnh hố khai quật Trung tâm di tích Cố đô Hoa Lư năm 1998 của Viện Khảo cổ học

    Một đoạn tường thành Hoa Lư phát hiện qua đợt khai quật năm 1969-1970

    Đầu ngói ống có in nổi hình Phật ngồi trên toà sen, thế kỷ 10, Ngọc Hà, thành Thăng Long, Hà Nội

    Gạch xây tháp có in nổi tháp nhiều tầng, thế kỷ 10-13, Ngọc Hà, thành Thăng Long, Hà Nội

     

    Gạch "Đại Việt Quốc Quân Thành Chuyên", thế kỷ 10

    Gạch lát nền hình vuông trên một mặt in nổi hình bông sen nở chính giữa, bao quanh có 4 hình con bướm và diềm hồi văn, thế kỷ 10 (Hoa Lư, Ninh Bình)

    Đầu ngói ống thế kỷ 10 (Hoa Lư, Ninh Bình)

    Tượng uyên ương thế kỷ 10 (Hoa Lư, Ninh Bình)

    Tiền đồng triều Đinh, hình tròn, lỗ vuông. Mặt tiền: Thái Bình Hưng bảo, lưng tiền có chữ Đinh đúc nổi, được đúc và phát hành từ năm 968 đến năm 980

    Hạt thóc cháy - dấu tích của kho lương thực

     

    Đền thờ vua  Đinh Tiên Hoàng ở Hoa Lư, Ninh Bình

    Long sàng và rồng trên long sàng bằng đá  tại đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng ở đền Hoa Lư  (Ninh Bình)

    * Nhà Tiền Lê:

    Năm 981, Lê Hoàn lên ngôi lập ra triều Tiền Lê, tổ chức kháng chiến chống Tống trên sông Bạch Đằng và Lạng Sơn. Năm 982, vua tự làm tướng đi dẹp giặc, xây dựng củng cố chính quyền, đi cày tịch điền, chú ý giao thông, thuỷ lợi.

     

    Trước đền thờ Đinh Tiên Hoàng Đế

    Sân rồng đền thờ Đinh Tiên Hoàng

    Một số cổ vật thời Đinh

     

    Chân dung vua Lê Đại Hành

    Tượng Vua Lê Đại Hành ở Hoa Lư

    Lê Hoàn (Lê Đại Hành) đại phá quân Tống năm 981

     

    Gạch "Giang Tây quân" thời Đường phát hiện ở Hoa Lư - Ninh Bình, thế kỷ 10

    Tiền đồng triều Tiền Lê, hình tròn, lỗ vuông. Mặt tiền: Thiên Phúc trấn bảo, lưng tiền chữ Lê đúc nổi, được đúc và phát hành từ năm 984 trở đi

     

     Bia ở đền thờ Lê Hoàn tại Thanh Hoá

    Đền thờ Lê Hoàn  tại Ninh Bình

    Phong cảnh đền thờ Lê Hoàn tại Hoa Lư – Ninh Bình

     

    Đĩa đá vua Tống tặng vua Lê Đại Hành

    Du khách thập phương cầu lễ tại đền vua Lê Đại Hành ở Thọ Xuân – Thanh Hóa

     

    Tượng Thái hậu Dương Vân Nga tại đền vua Lê Đại Hành ở Hoa Lư

    Thái hậu Dương Vân Nga trao Long bào cho Tướng quân Lê Hoàn

    Phong cảnh cố đô Hoa Lư nhìn từ đỉnh Mã Yên Sơn

    Non xanh cố đô Hoa Lư

     

    Cổng thành Tràng An trên vách núi

    Chùa Bàn Long ở cố đô Hoa Lư

     

    Hệ thống sông núi thành Nam của cố đô Hoa Lư (hiện tại là hang động Tràng An)

    Chiếc đầu rồng được tìm thấy ở Gia Viễn, Gia Phương, Ninh Bình vào tháng 2 – 2009, ngay tại quê hương vua Đinh Tiên Hoàng, hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng Ninh Bình

    Thời kỳ Bắc thuộc chủ yếu diễn ra trên miền Bắc Việt Nam. Ở miền Trung vẫn là thời kỳ của các quốc gia Lâm Ấp - Chăm Pa độc lập. Quần thể di tích lớn như Thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam) và hệ thống tháp Chàm với kiến trúc xây gạch độc đáo hiện vẫn đang được bảo tồn cho thấy khu vực này có những mối giao lưu, ảnh hưởng lớn từ văn hóa Ấn Độ.

    Những kiến trúc còn sót lại của Thánh địa Mỹ Sơn trong ánh hoàng hôn

    Một phần quang cảnh nhóm tháp tại Mỹ Sơn

     

    Các mô típ trang trí bên ngoài một tháp hình thuyền (đã vỡ mái) tại Thánh địa Mỹ Sơn

    Vết tích của Vương quốc Champa tại Mỹ Sơn

     

    Vết tích sinh thực khí nam (Linga) và nữ (Yoni) tại Mỹ Sơn

    Một số tháp chỉ còn là tàn tích, đang chờ được trùng tu và khai quật

    Theo Bảo tàng lịch sử Việt Nam


    Nhắn tin cho tác giả
    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 17:19 13/10/2010
    Số lượt xem: 1513
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến