Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    NoiNayCoAnhSonTungMTP4772041.mp3 Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf Bai_ca_nguoi_giao_vien_nhan_dan.swf Clock_hoacucvang_thang111.swf

    Thành viên trực tuyến

    3 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Danh nhân thế giới >

    Winston Churchill và Thế Chiến Thứ Nhất.

    4/ Winston Churchill và Thế Chiến Thứ Nhất.

             Vào cuối thế kỷ 19, nước Đức trước kia gồm nhiều vương quốc, đã được thống nhất thành một quốc gia hùng mạnh đặt dưới quyền cai trị của Hoàng Đế Wilhelm II. Giống như nước Anh và nước Pháp, nước Đức cũng sở hữu nhiều miền đất thuộc địa tại châu Phi và châu Á, trong khi đó người Đức đang lo tăng cường sức mạnh quân sự. Nước Đức đã liên kết với Đế Quốc Áo-Hung, với vài quốc gia tại miền Balkan và với nước Thổ Nhĩ Kỳ. Đối nghịch với khối quân sự này là liên minh các nước Anh, Pháp, Nga và Ý.

             Trước đe dọa của chiến tranh, Winston Churchill phải lo lắng cải tiến ngành Hải Quân. Ông đi xem xét từng chiến hạm, đề nghị cải tiến loại tầu chiến dùng than thành loại dùng dầu nhờ vậy các tầu chiến có thể nhận tiếp liệu trên mặt biển. Các đại pháo đặt trên tầu chiến cũng được thay từ loại 13 inches sang loại 15 inches có tầm bắn xa hơn và sức công phá mạnh hơn. Winston Churchill cũng tìm cách cải thiện đời sống của các binh sĩ trên tầu, ra lệnh cho họ tập dượt để sẵn sàng ứng phó khi cuộc chiến diễn ra. Vào năm 1912, Winston Churchill đã tiên liệu vai trò quan trọng của máy bay trong các cuộc chiến tương lai, nên ông đã cho thành lập một ngành Không Quân trong Bộ Hải Quân "để bảo vệ các hải cảng và tầu dầu của nước Anh".

             Ngày 18-6-1914 tại Sarajevo thuộc xứ Serbia, ngày nay là Nam Tư, một thanh niên 17 tuổi đã ám sát ông Hoàng Ferdinand Charles và bà vợ Katharine. Biến cố này đã gây nên Thế Chiến Thứ Nhất. Do sự việc kể trên, nước Áo tuyên chiến với xứ Serbia. Xứ Serbia này được nước Nga bảo vệ cùng với đồng minh của Nga là nước Pháp. Nước Đức là kẻ thù của nước Pháp và là đồng minh của nước Áo, bèn tuyên chiến với hai nước Nga và Pháp trong khi đó, nước Anh cũng chống lại nước Đức.

             Khi quân đội Đức tràn qua nước Bỉ trung lập để tiến đánh sang nước Pháp, quân đội Anh đã được chuẩn bị sẵn sàng. Winston Churchill do tiên liệu cuộc chiến, nên đã chuẩn bị Hải Quân Anh và ông đã tiên đoán quân Đức sẽ đánh bại quân Pháp tại giòng sông Meuse thuộc phía đông, và rồi người Đức sẽ thất bại tại giòng sông Marne. Các lời tiên đoán của Winston Churchill đã rất chính xác, nhưng ông Churchill không phải là không gặp thất bại. Khi quân đội Đức tràn vào thành phố Antwerp của nước Bỉ, ông Churchill đã đích thân dẫn một toán lính thủy Anh tới Antwerp để ngăn chặn quân Đức và ông đã mặc bộ quân phục Đề Đốc Anh lộng lẫy, trông giống như đi đại hội hơn là ra chiến trường, và kết quả là đoàn quân Anh và ông Churchill đã đại bại, phải bỏ chạy về hải cảng Dunkirk của nước Pháp. Các báo chí Anh và các người chống đối ông Churchill đã chỉ trích sự thất bại này, gọi đoàn quân Anh là "Đoàn Xiếc Antwerp".

    Ông Churchill còn chịu trách nhiệm về một thảm cảnh chiến tranh nặng nề hơn. Trong cuộc Thế Chiến Thứ Nhất, nước Thổ Nhĩ Kỳ đã đứng về phe Đức bằng cách tấn công nước Hy Lạp. Khi đó người Thổ đang kiểm soát eo biển Dardanelles, gần thành phố Constantinople (ngày nay gọi là Istanbul). Bởi vì Dardanelles là cửa ngõ dẫn vào Biển Đen (the Black Sea) và nước Nga, nên muốn cho các đồ tiếp liệu quân sự được chở tới nước Nga, các nước đồng minh Anh Pháp phải tấn công Thổ Nhĩ Kỳ. Tư lệnh của lực lượng Anh thời đó là Lord Kitchener đề nghị một chiến lược hành quân tấn công vào Dardanelles trong khi các chuyên viên quân sự Anh cho rằng việc đánh bại quân Thổ và tăng cường cho nước Nga sẽ làm cho chiến cuộc mau chấm dứt. Winston Churchill nghiên cứu kế hoạch oanh tạc phối hợp với việc đổ bộ lên bờ biển. Thế nhưng, cuộc oanh tạc của Hải Quân Anh tuy kéo dài, đã không tiêu diệt được quân Thổ Nhĩ Kỳ cố thủ tại Dardanelles, trong khi quân tăng cường Đức được gửi tới. Trên bờ biển của bán đảo Gallipoli, đoàn quân Thổ với võ khí tối tân, nằm trong các công sự phòng thủ kiên cố, đã tàn sát hàng ngàn binh lính đổ bộ người Anh và người Uc trong 9 tháng trường của năm 1915. Winston Churchill đã nhận lãnh trách nhiệm về thảm bại này. Để tránh cho đảng Cấp Tiến (the Liberal Party) không bị sụp đổ, các nhà lãnh đạo đảng này đã mời đảng Bảo Thủ tham gia chính quyền nhưng đảng Bảo Thủ đã ra điều kiện là ông Churchill phải bị gạt ra khỏi Nội Các mới. Vào tháng 11 năm 1915, Winston Churchill từ chức trong cảnh cay đắng nhưng ông vẫn còn là một Dân Biểu trong Quốc Hội. Trong thời gian thất vọng này, Winston Churchill tìm an ủi bên gia đình và ông đã khám phá ra một hoạt động tiêu khiển mới, đó là bộ môn Hội Họa.

    Thế Chiến Thứ Nhất vẫn tiếp diễn. Không bên nào thắng thế. Hàng triệu người lính của hai phe Đức-Áo và đồng minh Anh-Pháp đã sống trong các chiến hào, trong các hầm hố, bên trên có các bÁo cát và dây kẽm gai chằng chịt. Tháng 11 năm 1915, Winston Churchill tình nguyện tham chiến với cấp bậc Thiếu Tá, phục vụ tại mặt trận của nước Pháp và ông đã nhiều lần thoát hiểm. Churchill đã mô tả cuộc chiến là "tàn bạo và dữ tợn".

    Sau 6 tháng ngoài trận tuyến, Winston Churchill xin từ chức và trở về London bởi vì tiểu đoàn của ông được sát nhập với một đơn vị khác và ông không còn nắm quyền chỉ huy nữa, đồng thời Lloyd George và vài chính khách khác cũng cho rằng ông Churchill hữu ích hơn trong chính quyền. Từ các kinh nghiệm ngoài mặt trận, Winston Churchill đã viết ra các bài chỉ trích các chiến lược của quân đội Anh và ông cũng đề nghị nên phát triển loại "xe tăng" (the tank) để bảo vệ mạng sống của các binh sĩ. Thực ra, ông Churchill không phải là người phát minh ra xe tăng, nhưng ông đã đề nghị cách dùng dây xích để xe tăng leo qua được các hầm hố, vượt qua các hàng rào kẽm gai và được dùng như một thứ pháo đài di chuyển của bộ binh.

    Vào tháng 4-1917, Hoa Kỳ tham chiến bên cạnh phe Đồng Minh, sự kiện này đã làm gia tăng cơ hội chiến thắng. Cũng vào thời gian này, David Lloyd George đã thay thế ông Herbert Asquith làm Thủ Tướng và các nhà lãnh đạo đảng Cấp Tiến đề nghị Winston Churchill lãnh chức Bộ Trưởng Đạn Dược (minister of munitions) và với nhiệm vụ này, ông Churchill sẽ làm việc gần gũi với ông Bernard Baruch, vị bộ trưởng tương tự của Hoa Kỳ. Trong thời gian này, do các việc làm cần mẫn và tốt đẹp, cộng tác với lực lượng quân sự Mỹ, ông Winston Churchill được ân thưởng "Bội Tinh Phục Vụ Đặc Biệt" (the Distinguished Service Cross) của Hoa Kỳ, do Tướng John Pershing, Tham Mưu Trưởng Hoa Kỳ, trÁo lại.

    Việc tham chiến của lực lượng quân sự Hoa Kỳ chống lại quân đội Đức đã có kết quả, mặc dù quân Đức đã dùng tới võ khí hơi ngạt, gây tử vong khủng khiếp cho phe đồng minh. Ngày 11-11-1918, nước Đức thua trận.

     

    5/ Winston Churchill sau Thế Chiến Thứ Nhất.

             Sau khi chiến tranh chấm dứt, Winston Churchill cùng một số người khác nhận lãnh trách nhiệm mang hàng triệu binh lính từ mặt trận trở về đời sống dân sự. Ong cũng giúp các đạo quân đồng minh trú đóng tại các nước Đức, Thổ Nhĩ Kỳ và tại miền Trung Đông xây dựng lại từ các đổ nát do chiến tranh.

             Một vấn đề khác đã làm bận tâm Winston Churchill là "vấn đề Ái Nhĩ Lan". Xứ sở này đang bị phân hóa. Đa số người dân Ái Nhĩ Lan theo đạo Catholic đang đòi hỏi một quốc gia độc lập nhưng các người theo đạo Tin Lành thuộc 5 hạt phía bắc, được gọi là Miền Ulster, lại muốn địa phương của họ tiếp tục là một phần của nước Anh. Để giữ cho "sân sau của nước Anh" được ổn định, Winston Churchill đã giúp công vào thỏa ước nhờ đó xứ Ái Nhĩ Lan không bị xáo trộn trong thời kỳ Thế Chiến Thứ Nhất, dù cho có xẩy ra một cuộc nổi loạn của các người Catholic vào năm 1916.

             Vào năm 1920, là Bộ Trưởng Thuộc Địa, ông Churchill đã tìm cách thương thảo với ông Michael Collins, một người cương quyết bảo vệ chủ trương Catholic. Lúc đầu, hai người đã coi nhau như kẻ thù nhưng dần dần, họ đã trở thành hai người bạn. Churchill và Collins đồng ý về một thỏa ước chuyển xứ Ái Nhĩ Lan thành một miền đất có một phần độc lập, giống như hai xứ Canada và Australia, và nền độc lập của xứ Ái Nhĩ Lan đã trở thành sự thực vào năm 1923 trong khi cho tới ngày nay, tại miền Ulster vẫn còn các xung đột giữa hai sắc dân Tin Lành đa số, và Catholic thiểu số.

             Winston Churchilll cũng giữ một vai trò quan trọng trong các chính sách được thi hành tại miền Trung Đông. Đây là một miền đất do người Thổ Nhĩ Kỳ kiểm soát trong nhiều thế kỷ. Đây cũng là cái nôi của ba tôn giáo lớn: đạo Thiên Chúa, đạo Hồi và đạo Do Thái. Trước khi Thế Chiến Thứ Nhất kết thúc, nước Anh đã hứa hẹn sẽ giúp đỡ các quốc gia Ả Rập, kể cả Ai Cập, giành lại độc lập từ tay người Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng một điều rắc rối khác đồng thời cũng xẩy ra : vào năm 1917, chính quyền Anh đã công bố "Bản Tuyên Cáo Balfour", hứa hẹn xây dựng tại Palestine một xứ sở dành cho người Do Thái. Người ủng hộ mạnh mẽ nhất chính sách này là ông Winston Churchill. Ông Churchill tin tưởng rằng sắc dân Do Thái đã bị lưu lạc trong gần 2,000 năm, nên cần có một mảnh đất quê hương và ông cũng tin rằng quốc gia Do Thái trên miền đất chiến lược này sẽ là một lợi điểm quân sự cho nước Anh.

    Năm 1921, Winston Churchill và một số viên chức cao cấp của chính quyền Anh đã tạo dựng nên các quốc gia Iraq và Trans-Jordan cắt ra từ lãnh thổ cũ của đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ. Hai nhân vật hoàng gia Ả Rập, giòng họ Feisals, được người Anh đặt lên ngai vàng và ông Churchill hy vọng rằng cách xếp đặt này sẽ làm vừa lòng người dân Ả Rập đồng thời cũng sẽ cho phép lập nên một quốc gia Do Thái mà không gây ra xung đột. Trong khi các chính sách kể trên đang được thi hành thì tại gia đình, ông Churchill đã gặp phải hai điều bất hạnh. Tháng 6 năm đó, bà mẹ của ông bị ngã và qua đời rồi tới tháng 8, đứa con gái trẻ nhất, Marigold mới 3 tuổi, đã chết một cách bất ngờ. Hai tin buồn này đã khiến cho ông bà Churchill hủy bỏ tất cả các hoạt động công cộng và lui về sống ẩn dật tại miền Tô Cách Lan. Winston Churchill đã tìm quên trong bộ môn Hội Họa.

    Năm 1922, các điều kiện không ổn định tại nước Anh đã khiến cho đảng Cấp Tiến phải tổ chức một cuộc bầu cử mới. Trong kỳ này, Winston Churchill ra tranh chức Dân Biểu Cấp Tiến tại thành phố Dundee, nhưng bệnh đau ruột dư đã không cho phép ông vận động tích cực. Ông Churchill đã bị thất cử và đây là lần đầu tiên trong 20 năm, ông trở về với cuộc sống gia đình. Tháng 11 năm 1922, Winston Churchill mua một lâu đài nhỏ tại Chartwell, thuộc miền Kent. Cũng chính tại nơi cư ngụ mới này, ông Churchill bắt đầu một chương trình biên khảo lớn, đó là Bộ Sách Lịch Sử Thế Chiến Thứ Nhất, gồm 6 cuốn với nhan đề là "Cuộc Khủng Hoảng Thế Giới" (The World Crisis). Ông Churchill đã làm việc hàng giờ với nhiều người thư ký thay phiên nhau đánh máy các bản thảo. Trong hai năm bận rộn với công việc viết Sử, Winston Churchill vẫn chú ý tới các hoạt động chính trị. Năm 1923, ông Churchill lại bị thất cử tại địa điểm West Leicester rồi sau đó, do không được đảng Bảo Thủ ủng hộ, Winston Churchill đã khởi đầu một đảng phái mới có tên là đảng Hiến Pháp (the Constitutionalists) và ông Churchill ra tranh cử với tư cách độc lập.

    Việc tạo ra một đảng phái thứ ba là điều trái ngược với các truyền thống cũ của nước Anh và đã theo nền nếp của nền chính trị Hoa Kỳ. Ông Winston Churchill đã vận động tranh cử trên chiếc xe ngựa có gắn loa phóng thanh, tại một xã hội gồm những người quý tộc và những người lao động, ông đã được sự giúp đỡ của các phụ nữ giàu có, các nhà thể thao và các diễn viên danh tiếng, họ đã đóng góp bằng nhiều thời giờ và công sức. Thế nhưng, mặc dù các hào hứng trong cách vận động, ông Churchill vẫn bị thất cử, chỉ thua 43 phiếu.

    Tinh thần tranh cử và phương cách vận động của Winston Churchill đã khiến cho Lord Arthur Balfour phải chú ý và ủng hộ ông Churchill. Vị cựu Thủ Tướng Anh này đã phải thuyết phục các nhân vật then chốt trong đảng Bảo Thủ hãy tha thứ cho Winston Churchill về những lần thay đổi đảng tịch và dành cho ông Churchill nơi tranh cử là thành phố Epping, một địa phương mà đảng Bảo Thủ thường thắng phiếu. Hơn nữa, vị Thủ Tướng mới là ông Stanley Baldwin lại mời Winston Churchill giữ một chức vụ trong Nội Các: Bộ Trưởng Tài Chính (the Chancellorship). Đây là chức vụ quan trọng thứ hai trong Nội Các nước Anh, chỉ đứng sau Thủ Tướng, với quyền hạn tương đương với Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện, Bộ Trưởng Ngân Khố và Chủ Tịch Quỹ Dự Trữ Liên Bang của Hoa Kỳ. Như vậy vào tuổi 50, Winston Churchill đã đảm nhiệm chức vụ quan trọng mà gần 40 năm về trước, cha của ông đã nắm giữ.

    Là Bộ Trưởng Tài Chính, Winston Churchill phải trù liệu các ngân sách của chính phủ, quyết định các ngân khoản phải tiêu và các loại thuế phải thu. Công việc này thực ra không thích hợp với tài năng của ông Churchill. Hơn nữa, thập niên 1920 không phải là giai đoạn tốt đẹp về tài chính cho nước Anh. Thế Chiến Thứ Nhất đã làm yếu đi nền kinh tế và nền kỹ nghệ. Thời kỳ khó khăn đã khiến cho ông Churchill trở thành mục tiêu bị chỉ trích. Các người cấp tiến đã gọi ông là kẻ phản bội, ông còn bị gán cho danh hiệu "kẻ thù của giới lao động". Dù thế, vào năm 1925, ông Winston Churchill đã vận động thành công việc thông qua một đạo luật về An Sinh Xã Hội nhờ đó hơn một triệu người nghèo nhận được trợ giúp của chính quyền.

    Vào năm 1926, khi ông Churchill đang giữ chức vụ, một cuộc tổng đình công đã diễn ra trên toàn nước Anh với sự tham dự của các thợ mỏ, công nhân hỏa xa và công nhân nhà máy, tài xế xe tải và các phóng viên báo chí … Năm 1929, cuộc đại khủng hoảng kinh tế trên toàn thế giới đã ảnh hưởng tới nước Anh. Sau cuộc bầu cử, đảng Lao Động (the Labor Party) thắng phiếu và Ramsay MacDonald trở nên Thủ Tướng lần thứ hai. Winston Churchill không còn nằm trong Nội Các nữa dù cho ông vẫn giữ ghế Dân Biểu Quốc Hội. Tương lai chính trị của Winston Churchill vào lúc này rất u tối.

     

    6/ Winston Churchill trước Thế Chiến Thứ Hai.

             Trong thời gian 10 năm từ 1929 tới 1939, cuộc Đại Khủng Hoảng Kinh Tế đã làm cho người dân tại nhiều quốc gia gặp cảnh đói khổ, thiếu thốn. Tại nước Đức, Hitler và đảng Quốc Xã lên nắm chính quyền trong khi về phía châu Á, nước Nhật Bản đang tăng cường quân sự và bành trướng ảnh hưởng sang các quốc gia khác. Tại nước Anh, hai đảng Bảo Thủ và Cấp Tiến đã cộng tác với nhau trong một chính phủ liên hiệp nhưng họ có các chính sách khác với chủ trưởng của Winston Churchill. Chính vào thời gian bị gạt ra khỏi chính trường này, ông Churchill đã cùng với người con trai tên là Jack, người em trai Randolph và con trai của ông này, cả bốn người cùng du lịch qua xứ Canada, sau đó qua thăm tiểu bang California của Hoa Kỳ. Tại Hollywood, Winston Churchill đã làm quen với nhiều ngôi sao điện ảnh danh tiếng, đặc biệt nhất là Charlie Chaplin. Ông Churchill cũng gặp ông William Randolph Hearst, chủ nhân của nhiều tờ báo lớn xuất bản tại Hoa Kỳ.

             Trong thời gian lưu lại California và theo lời khuyên của vài người bạn, Winston Churchill đã bỏ tiền ra mua một số cổ phần chứng khoán. Tới tháng 10-1929, thị trường chứng khoán mất giá. Nhiều người tại Hoa Kỳ đã tự sát vì bị mất hết tài sản. Ông Churchill cũng bị thiệt hại nặng và ông đã tìm cách kiếm tiền lại bằng cách viết nốt các cuốn sách còn dang dở. Vào năm 1931, hai cuốn sách của Winston Churchill được xuất bản, đó là cuốn cuối cùng trong Bộ Sách Lịch Sử Thế Chiến Thứ Nhất và cuốn thứ hai có tên là "Các năm đầu của tôi" (My Early Years). Cũng giống như các sách xuất bản trước kia, các tác phẩm của Winston Churchill đã được bán rất chạy vì rất phổ biến. Winston Churchill còn bắt đầu viết bộ sách bốn cuốn về lịch sử của các dân tộc nói tiếng Anh. Ông cũng ký hợp đồng với một nhà xuất bản lớn để viết về tiểu sử của tổ tiên của ông, ông John Randolph, Hầu Tước miền Marlborough. Ngoài ra, Winston Churchill còn có nhiều bài viết gửi cho các nhật báo và tạp chí, và qua những bài viết này, ông thường vạch ra những yếu kém của chính quyền, của các nhà lãnh đạo đảng tại nước Anh.

             Vào thời gian này tại châu Âu, Hitler bắt đầu tìm cách tăng cường quân lực. Đối với vấn đề này, chính quyền Anh đã đề nghị mọi quốc gia cùng tài giảm binh lực và đã có lần, Thủ Tướng Anh Ramsay MacDonald đã cắt giảm binh lực Anh để làm gương. Trước những tham vọng của Hitler, ông Churchill luôn luôn đặt vấn đề cảnh giác và ông đã báo động về việc Đức Quốc Xã xây dựng Không Quân trong khi Không Lực Hoàng Gia Anh còn quá yếu kém. Lời tiên đoán của Winston Churchill đã thành sự thực khi Không Quân Đức oanh tạc các thành phố tại Tây Ban Nha trong cuộc nội chiến xẩy ra vào năm 1937.

             Trước các lời cảnh cáo, chống đối chính phủ Anh của Winston Churchill, trước các người ủng hộ ông Churchill, trước các đe dọa từ nước ngoài, phe chống đối ông Churchill đã gọi phe Churchill là một thứ chính phủ bí mật, còn trong bóng tối. Nhưng ông Winston Churchill đã nhận được sự ủng hộ của Lord Beaverbrook, chủ nhân của nhật báo lớn nhất nước Anh, của Ralph Wigram, một sĩ quan Anh đã từng theo dõi đà tiến bộ của Không Quân Đức. Một nhân vật khác đã giúp đỡ Winston Churchill là Thiếu Tá Desmond Morton, đã thu lượm các tin tức về cách tăng cường và chuẩn bị kỹ nghệ và quân sự của Đức Quốc Xã, đồng thời chỉ huy trưởng Không Quân Torr Anderson cũng thông báo cho Winston Churchill về tình trạng yếu kém của Không Quân Hoàng Gia Anh R.A.F.

             Với các tài liệu chính xác và phương cách thận trọng, các lời cảnh tỉnh của Winston Churchill chưa gây được tiếng vang. Tới năm 1937, Hitler sát nhập nước Áo vào nước Đức rồi vào đầu năm 1938, Hitler đòi hỏi độc lập giành cho miền Sudeten tách ra khỏi nước Tiệp Khắc. Tình hình chính trị tại châu Âu càng trở nên căng thẳng vì các tham vọng của Hitler. Tháng 9-1938, Thủ Tướng mới của nước Anh là ông Neville Chamberlain đã bay qua Munich để gặp mặt Hitler nhưng sau đó, đành phải công nhận nhiều đòi hỏi của Hitler. Khi ông Thủ Tướng Chamberlain về tới phi trường London, ông đã vẫy chào đám đông bằng một bản thỏa ước ký với nhà độc tài Quốc Xã và ông hô lớn "Hòa Bình trong thời đại của chúng ta" (Peace in our time). Trái lại, Winston Churchill đã coi thỏa ước này là một bản đầu hàng. Trước Quốc Hội Anh, Winston Churchill đã nói với ông Chamberlain: "Ngài được chọn lựa giữa chiến tranh và sự mất danh dự. Ngài đã chọn sự mất danh dự và Ngài sẽ gặp chiến tranh" (You were given the choice between war and dishonor. You chose dishonor and you will have war).

     

    7/ Winston Churchill và Thế Chiến Thứ Hai.

             Sau khi quân đội Đức Quốc Xã đã chiếm trọn xứ Tiệp Khắc, người dân nước Anh mới nhận ra những điều cảnh cáo của Winston Churchill là đúng. Dân chúng và nhiều tờ báo đã yêu cầu ông Churchill trở lại chính quyền nhưng Thủ Tướng Chamberlain vẫn còn tin tưởng rằng nhà độc tài Hitler đã được mãn nguyện. Sau đó, Hitler lại đòi hỏi hải cảng Danzig của nước Ba Lan (ngày nay là Gdansk) phải được trả về cho nước Đức. Tháng 7 năm 1939, nước Đức và nước Nga vốn là hai kẻ thù, đã ký một hiệp ước hòa hoãn. Ngày 8-8-1939, Winston Churchill nói trên đài phát thanh hướng về Hoa Kỳ, nhắc nhở cho người Mỹ nhớ lại 25 năm về trước, vào năm 1914, quân đội Đức đã xâm lăng nước Bỉ và ngày nay, chiến tranh sẽ xẩy ra. Sự việc này khiến cho Thủ Tướng Chamberlain phải ký một hiệp ước bảo vệ xứ Ba Lan nếu nơi này bị tấn công.

             Ngày 1 tháng 9 năm 1939, quân đội Đức Quốc Xã tiến vào Ba Lan. Không quân Đức đã oanh tạc các thành phố trước khi thiết giáp Đức xông đến. Trong hai ngày, Thủ Tướng Chamberlain kêu gào quân Đức ngừng lại, nhưng vô hiệu quả. Ngày 3-9-1939, hai nước Anh và Pháp tuyên chiến với Đức và Ý.

             Tới thời điểm này, dân chúng Anh đòi hỏi Winston Churchill trở về chính quyền. Vị anh hùng khi trước, nay được bổ nhiệm làm Bộ Trưởng Hải Quân (the First Lord of the Admiralty). Điện tín được đánh đi tới các con tầu chiến Anh như sau: "Winnie đã trở về". Winnie là tên gọi thân mật của Winston Churchill. Các con tầu Hải Quân Anh đều treo cờ, chào mừng sự trở về ngành Hải Quân của Winston Churchill.

             Sau khi nước Ba Lan bị chia cắt làm hai, phần phía đông thuộc Liên Xô, phía tây thuộc Đức Quốc Xã, tình hình chiến tranh lắng đọng trở lại. Các binh lính Anh và Pháp vẫn hướng súng, phòng thủ sau trận tuyến Maginot dài 300 dậm. Ngày 10 tháng 5 năm 1940, quân lực Đức Quốc Xã tấn công nước Bỉ và Hòa Lan. Xe tăng Đức đè bẹp dễ dàng mọi kháng cự. Thủ Tướng Chamberlain đành phải từ chức. Winston Churchill được mời nhận chức vụ Thủ Tướng. Nội Các mới gồm các lãnh tụ của cả ba đảng: ông Anthony Eden, thuộc đảng Bảo Thủ, lo Bộ Chiến Tranh, Sir Archibald Sinclair, nhà lãnh đạo đảng Cấp Tiến, đứng đầu Bộ Không Quân, lãnh tụ đảng LÁo Động là ông Clement R. Attlee đảm nhiệm chức vụ Phó Thủ Tướng, còn Winston Churchill kiêm Bộ Trưởng Quốc Phòng.

             Bài diễn văn đầu tiên của Thủ Tướng Churchill nói trước Quốc Hội Anh là một văn bản mạnh, đầy ý nghĩa của ngôn ngữ Anh. Ông Churchill đã nói: "Tôi không có gì để cống hiến ngoài máu, công sức khó nhọc, nước mắt và mồ hôi…" và ông kêu gọi phải thực hiện "Vinh Quang bằng mọi giá, bởi vì không có Vinh Quang, sẽ không có Sống Còn". Các lời nói của Thủ Tướng Churchill là các vũ khí, và sức mạnh của các bài phát biểu của ông đã được chứng tỏ trong các năm sắp đến. Lời kêu gọi của ông Winston Churchill đã làm gia tăng tinh thần chiến đấu của dân tộc Anh, giúp họ có thêm cam đảm trong cuộc chiến đầy gian nan trước lực lượng quân sự Quốc Xã.

             Ngày 16-5-1940, Thủ Tướng Churchill bay qua Pháp, nơi này đang chống cự sức tấn công của Đức. Khi người Pháp yêu cầu Thủ Tướng Anh trợ giúp nước Pháp về các phi cơ quân sự thì ông Churchill đã từ chối, bởi vì không quân Anh chỉ bằng một phần năm không lực Đức, còn cần dùng để bảo vệ các hòn đảo Anh Cát Lợi. Ông Churchill chỉ hứa hẹn sẽ cung cấp nơi ẩn náu cho những người Pháp kháng chiến.

             Ngày 2 tháng 6, 300,000 quân nhân Anh và Pháp phải rút lui về bờ biển Dunkirk trên lãnh thổ Pháp, họ đang cầm cự trước sức tấn công vũ bão của lực lượng Quốc Xã. Vào lần nguy ngập này, Thủ Tướng Churchill lại phải kêu gọi dân tộc Anh hỗ trợ một công tác giải cứu trong cảnh tuyệt vọng và trong vòng 24 giờ, hơn 800 tầu thuyền đủ loại, từ tầu chiến tới thuyền buồm, từ du  thuyền tới tầu kéo, công cũng như tư, đã qua lại Eo Biển Channel rộng 35 dậm, để cứu các đạo quân rút về nước Anh trong khi đó, Không Lực Hoàng Gia Anh vẫn bay lượn, ngăn cản các phi cơ săn đuổi của Đức Quốc Xã. Kết quả là các đoàn quân Anh và Pháp đã phải bỏ lại toàn bộ võ khí nặng và đã được cứu thoát.

             Sau cuộc rút lui Dunkirk, Thủ Tướng Churchill lại nói với nhân dân nước Anh: "Chúng ta sẽ bảo vệ hòn đảo của chúng ta bằng mọi giá … Chúng ta sẽ chiến đấu trên bờ biển, chúng ta sẽ chiến đấu trên các mảnh đất đổ bộ, chúng ta sẽ chiến đấu trên các cánh đồng, chúng ta sẽ chiến đấu trên các ngọn đồi …, chúng ta sẽ không bÁo giờ đầu hàng".

             Tại thủ đô Washington, Tổng Thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt đã lắng nghe lời Thủ Tướng Churchill và ông Roosevelt đã quay sang nói chuyện với ông Harry Hopkins là phụ tá của Thủ Tướng Anh rằng: "Những gì chúng tôi cung cấp cho nước Anh sẽ không là thứ tiền đổ xuống mương, khi nào mà ông già đó còn đảm đương nhiệm vụ. Nước Anh sẽ không bao giờ đầu hàng".

             Ngày 14-6-1940, quân đội Quốc Xã tiến vào thành phố Paris. Một tháng sau, Hitler đề nghị một giải pháp hòa bình với nước Anh, với ý nghĩa là lính Quốc Xã sẽ kiểm soát đời sống của người dân Anh. Thủ Tướng Churchill đã nhờ Lord Halifax, Đại Sứ Anh tại Hoa Kỳ, lên tiếng trên đài phát thanh, bác bỏ đề nghị của Đức Quốc Xã.

             Sau khi nước Pháp đầu hàng, nước Anh đang đứng trước hiểm họa xâm lăng của Đức Quốc Xã. Khi phải đối đầu với hiểm nguy này, Thủ Tướng Churchill đã nói: "Trận chiến trên đất Pháp đã xong. Tôi trông đợi trận chiến trên đất Anh bắt đầu. Lệ thuộc vào trận chiến này là sự sống còn của nền Văn Minh Thiên Chúa Giáo… Nếu chúng ta bại trận, toàn thể thế giới kể cả Hoa Kỳ, sẽ chìm vào trong vực thẳm của một thời đại đen tối mới … Bởi vậy, hãy chuẩn bị vì các nhiệm vụ của chúng ta và nếu nước Anh và khối Thịnh Vượng Chung còn tồn tại trong một ngàn năm nữa, thì đây là giờ phút quyết định".

             Có lẽ do chủ trương kháng cự mãnh liệt của Thủ Tướng Churchill, cuộc xâm lăng hải đảo Anh Cát Lợi đã không diễn ra. Đức Quốc Xã chỉ tấn công nước Anh bằng không lực vì Hitler tin rằng do triệt hạ các cơ sở phòng thủ và lực lượng Không Quân Hoàng Gia Anh, nước Anh sẽ phải đầu hàng.

             Trận chiến tiêu diệt nước Anh bắt đầu vào tháng 8 năm 1940. Vào tháng 9 năm đó, Không Quân Đức đã oanh tạc nặng nề thủ đô London và các thành phố khác. Tất cả 25 không đoàn của Không Quân Hoàng Gia Anh đã bay lên nghênh chiến, và ngăn chặn các kẻ xâm lấn. Trong dịp này, nhiều phi công đã bay 18 giờ một ngày. Công sức của các phi công Anh đã mang lại kết quả: 56 oanh tạc cơ Đức đã bị bắn hạ trong 1 ngày và các phi cơ Đức khác đã phải bỏ chạy. Khi khen ngợi lòng dũng cảm của các phi công Anh, Thủ Tướng Churchill đã nói: "Chưa bao giờ trên mặt trận xung đột, một số người lớn như vậy lại mắc nợ một số người nhỏ như vậy".

             Công cuộc oanh tạc dữ dội của không quân Quốc Xã đã khiến cho thành phố London trở thành đống gạch vụn, 100 ngàn thường dân bị giết, các đám cháy lớn do bom nổ gây nên cũng làm gia tăng thiệt hại về nhân mạng và tài sản. Từ nay, trẻ em được di tản thật xa thành phố, các người còn ở lại thành phố London phải sống dưới các con đường hầm. Trong cảnh đổ nát này, Thủ Tướng Churchill đã đi an ủi người dân Anh. Ông Churchill thường chào đám đông dân chúng bằng cách giơ hai ngón tay thành hình chữ V, tượng trưng cho chữ "Victory" hay "Chiến Thắng". Dấu hiệu này của Winston Churchill đã được mọi người Anh dùng đến để biểu lộ niềm tin vào thắng lợi của ngày mai.

             Vào mùa xuân năm 1941, các trận oanh tạc của Không Quân Đức đã giảm bớt nhưng nước Anh vẫn còn nằm trong tầm nguy hiểm. Thiếu thực phẩm, thiếu tiếp liệu, nước Anh trông chờ vào nguồn tiếp tế từ hai xứ Canada và Hoa Kỳ và khi hàng hải thương thuyền Anh chở các mặt hàng  trên Đại Tây Dương, nhiều con tầu đã bị các tầu ngầm Đức loại U bắn chìm. Trong hoàn cảnh tuyệt vọng, Thủ Tướng Churchill đã kêu gọi Hoa Kỳ và để đáp lại lời yêu cầu, Tổng Thống Franklin D. Roosevelt đã cho nước Anh mượn 50 khu trục hạm để bảo vệ các đoàn tầu Anh trên mặt biển. Việc trợ giúp của Hoa Kỳ đã làm cho dân chúng Anh lên tinh thần. Vào thời điểm này, Hoa Kỳ vẫn còn đứng trung lập trước trận chiến tại châu Âu bởi vì nhiều người Mỹ phản đối việc Hoa Kỳ liên hệ tới chiến tranh, nhưng các bài diễn văn của Thủ Tướng Churchill đã gây được niềm tin nơi người dân Mỹ, rằng nước Anh xứng đáng được trợ giúp để chống ngoại xâm.

             Vào tháng 7 năm 1941, quân đội Đức Quốc Xã hướng qua phía đông, xâm lăng Liên Xô mặc dù hai quốc gia này đã ký thỏa ước bất tương xâm.

             Tháng 8 năm 1941, Thủ Tướng Churchill qua Hoa Kỳ bằng chiến hạm Prince of Wales, để họp bàn với Tổng Thống Roosevelt. Cả hai nhà lãnh đạo đã ký "Thỏa Ước Atlantic" (the Atlantic Charter) trong đó có các chương trình hòa bình sau khi chiến thắng, chương trình về Tổ Chức Liên Hiệp Quốc, về nền tự do của thế giới và về các phương cách ngăn ngừa chiến tranh trong tương lai.

             Ngày 7 tháng 12 năm 1941, Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) trên quần đảo Hạ Uy Di, đánh chìm phần lớn hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ. Ngày hôm sau, Hoa Kỳ tuyên chiến với Nhật Bản và Đức Quốc Xã. Sự kiện Hoa Kỳ tham chiến, đã khiến cho ông Winston Churchill tin tưởng rằng chắc chắn thắng lợi sẽ đến.

             Vào mùa đông năm 1942, quân đội Liên Xô chặn đứng được lực lượng Quốc Xã tại gần thành phố Moscow và thành phố Stalingrad (ngày nay là Volvograd) đồng thời trên mặt trận Bắc Phi, Tướng Bernard Montgomery người Anh đã đánh bại được Thống Chế Erwin Rommel của Đức tại El Alamein và quân đội Nhật Bản cũng bắt đầu phải rút lui trước sức tấn công của quân lực Hoa Kỳ trên biển Thái Bình Dương.

             Vào năm 1943, Thủ Tướng Churchill đã qua Hoa Kỳ hai lần để thảo luận với Tổng Thống Churchill,, Roosevelt và StalinRoosevelt về các kế hoạch tấn công tại châu Âu. Ngoài ra, ông Churchill còn thực hiện nhiều chuyến đi nguy hiểm khác: tới Teheran, nước Ba Tư, để gặp Thống Chế Stalin của Liên Xô, tới Cairo thuộc Ai Cập và Casablanca, Bắc Phi, để hội đàm với Tổng Thống Roosevelt. Mặc dù Liên Xô là một nước đồng minh trong công cuộc chống lại Đức Quốc Xã, nhưng ông Winston Churchill vẫn không tin tưởng Joseph Stalin. Ông chủ trương quân đội đồng minh nên đổ bộ tại Hy Lạp và tại các quốc gia trên bán đảo Balkans để ngăn cản Liên Xô không thể kiểm soát được các vùng đất này nhưng vào giai đoạn đó, Tướng George C. Marshall là Tham Mưu Trưởng của Hoa Kỳ và Tướng Dwight D. Eisenhower, Tư Lệnh Tối Cao các lực lượng Đồng Minh tại châu Âu, lại cho rằng nên tổ chức một cuộc tấn công qua eo biển Channel vào đất Pháp.

             Ngày 6 tháng 6 năm 1944, cuộc đổ bộ của quân lực Đồng Minh bắt đầu. Sáng hôm đó, Thủ Tướng Churchill đã nói trước Quốc Hội Anh: "Tôi phải công bố rằng trong đêm qua và vào các giờ của sáng hôm nay, một hạm đội gồm 4,000 tầu chiến và hàng ngàn tầu nhỏ khác, đã băng qua Eo Biển Channel". Chính ông Churchill đã muốn tham dự vào cuộc đổ bộ lịch sử này nhưng Vua nước Anh đã giữ lại vị Thủ Tướng 70 tuổi, và 6 ngày sau đó, Thủ Tướng Churchill cũng đã qua đất Pháp để quan sát mặt trận cùng với Tướng Montgomery.

             Phải mất thêm 10 tháng nữa, cuộc chiến tại châu Âu mới chấm dứt. Trong thời gian này, Thủ Tướng Churchill đã thực hiện nhiều chuyến đi khác: tới thành phố Quebec, Canada, để gặp Tổng Thống Roosevelt, qua đất Pháp và thành phố Moscow để hội thảo với Thống Chế Stalin, tới Yalta trên miền đất Liên Xô để bàn kế hoạch hòa bình hậu chiến với Tổng Thống Roosevelt và Thống Chế Stalin.

             Ngày 12 tháng 4 năm 1945, Tổng Thống Roosevelt qua đời bất ngờ vì xuất huyết não trong khi đang nghỉ ngơi tại Warm Spring, Georgia. Ngày 30-4, Hitler tự sát dưới hầm trong thành phố Berlin. Ngày 7-5, Đức Quốc Xã đầu hàng. Chiến tranh tại châu Âu chấm dứt.

             Ông Winston Churchill đã hô hào dân chúng Anh kháng chiến vì sự sống còn và nền tự do của nước Anh. Ông cũng vận động chính quyền Hoa Kỳ tham gia vào các công tác trợ giúp cũng như tham chiến để mang lại chiến thắng. Trong các giờ phút hiểm nguy và khó khăn, ông Winston Churchill đã đi khắp nơi và theo ước lượng của người phụ tá của ông, vị Thủ Tướng 70 tuồi này đã "thực hiện hơn 125,000 dậm trong các công tác chiến tranh, trải qua hơn 800 giờ trên biển và hơn 350 giờ trên không". Ông Churchill đã gặp Tổng Thống Roosevelt 9 lần và đã trao đổi với vị Tổng Thống này hơn 1,700 điện tín. Ngoài ra, sự đóng góp của ông Winston Churchill vào chiến thắng còn được Tướng Omar Bradley diễn tả bằng câu nói "Mỗi bài diễn văn của ông Winston Churchill tương đương với một sư đoàn".

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 05:14 31/08/2010
    Số lượt xem: 2894
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến