Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    Anh_Van_Giao_Tiep_Cho_Nguoi_Hoan_Toan_Mat_Goc___Ruby_Thao_Tran.flv NoiNayCoAnhSonTungMTP4772041.mp3 Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf

    Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Danh nhân thế giới >

    Winston Churchill

    Vietsciences- Phạm Văn Tuấn        09/04/05      

     

    Sir Winston Leonard Spencer Churchill (1874-1965) là một trong các chính khách danh tiếng nhất trong Lịch Sử Thế Giới và cũng là một bậc vĩ nhân của nước Anh. Vào năm 1895, ông Winston Churchill phục vụ quân đội Anh với cấp bậc Trung Uy dưới thời đại của Nữ Hoàng Victoria, ông về hưu vào năm 1964 khi làm Dân Biểu trong triều đại của Nữ Hoàng Elizabeth II, cháu 4 đời của Nữ Hoàng Victoria. Ít có người công dân nào phục vụ Tổ Quốc Anh lâu như ông Churchill.

    Sau khi Thế Chiến Thứ Hai bùng nổ, một mình nước Anh phải chịu đựng cuộc chiến chống lại Đức Quốc Xã. Thủ Tướng Churchill khi đó đã dùng lới nói, niềm tin và lòng can đảm cá nhân để thúc đẩy mọi người dân nước Anh phải kiên nhẫn, chiến đấu đến toàn thắng. Hình ảnh của ông là một nhân vật bệ vệ, luôn luôn có điếu thuốc xì-gà trên miệng và hai ngón tay giơ lên theo hình chữ V, tượng trưng cho chữ Victory là chiến thắng, đã mang lại niềm tin cho dân chúng nước Anh, dù cho khi ông Churchill thăm viếng cảnh đổ nát gây nên bởi oanh tạc cơ Đức Quốc Xã, hay khi ông ra nước ngoài, vận động vì chiến thắng và hòa bình. Ông Churchill đã từng tuyên bố chỉ cống hiến cho dân tộc Anh "máu, công sức khó nhọc, nước mắt và mồ hôi" để giúp cho người dân nước Anh bảo vệ được Tự Do của họ.

    Không những là một nhân vật lịch sử, một chính khách danh tiếng, Sir Winston Churchill còn là một phóng viên chiến trường, một chiến sĩ, một diễn giả, môt sử gia và một nhà văn xuất sắc. Sir Winston Churchill đã quán triệt được Ngôn Ngữ Anh, đã đọc nhiều bài diễn văn và viết ra nhiều tác phẩm bằng lời văn rõ ràng, trong sáng, hùng hồn. Năm 1953, Giải Thưởng Nobel về Văn Chương đã được trao tặng cho ông. 10 năm sau, 1963, Quốc Hội Hoa Kỳ cũng vinh danh Sir Winston Churchill là Công Dân Danh Dự của Hiệp Chủng Quốc.

     

    1/ Thuở thiếu thời của Winston Churchill.

             Winston Leonard Spencer Churchill chào đời vào ngày 30 tháng 11 năm 1874 trong lâu đài John, Jennie và WinnieBlenheim tại miền Oxforshire, nước Anh. Winston là trai lớn trong hai người con trai của Lord Randolph Churchill (1849-1895) và bà Jennie Jerome (1854-1921), một phụ nữ Hoa Kỳ nổi tiếng về sắc đẹp. Lord Randolph là con trai thứ ba của Hầu Tước thứ bẩy thuộc giòng họ Marlborough. Vị Hầu Tước thứ nhất là Sir John Churchill, một vị đại tướng đã chiến thắng tại Bleinheim, nước Đức, vào năm 1704 nên được phong chức Hầu Tước Marlborough. Cha và mẹ của Winston đã gặp nhau tại thành phố New York rồi thành hôn tại thành phố Paris vào năm 1874.

             Cũng giống như các con trẻ thuộc các gia đình quyền quý của nước Anh, Winston ít khi được gặp cha mẹ: họ đang bận rộn vì nhiều công việc xã hội, chính trị, bởi vì Lord Randolph là thủ lãnh của đảng Bảo Thủ. Winston được giao cho một người vú nuôi chăm sóc trong suốt thời kỳ thơ ấu và tên của bà này là Everest. Winston vẫn thương nhớ mẹ, và về sau đã ghi lại như sau: "mẹ tôi sống xa tôi như Ngôi Sao buổi chiều. Tôi yêu mẹ tôi lắm, nhưng luôn luôn từ xa".

     

     

     

             Năm Winston được 6 tuổi, một người em trai ra đời và được đặt tên là John. Khoảng cách về tuổi tác đã khiến cho hai anh em không thân mật với nhau. Cũng vào tuổi này, Winston được dạy tập đọc, tập làm toán, nhưng sở thích của cậu bé là chơi với bộ đồ chơi gồm nhiều người lính bằng chì, cao khoảng 2 tới 3 inches, mặc quân phục và sơn màu sặc sỡ. Với bộ đồ chơi này, Winston đã cùng một người bạn tập dàn các thế trận giả tưởng. Cậu bé Winston vào luc này cũng yêu thích đọc sách, nhưng lại ghét môn Toán học.

     

            

     

    Bà vú nuôi EverestVào tuổi lên 7, Winston được gửi tới trường Saint James, một trường nội trú chủ trương kỷ luật rất nghiêm khắc, thường dùng roi vọt để trừng phạt học sinh. Sau hơn hai năm chịu đựng gian nan tại ngôi trường này, nhờ lời năn nỉ của bà vú nuôi và lời cố vấn của bác sĩ gia đình, Winston được chuyển về học tại một ngôi trường nhỏ hơn, gần thị trấn nghỉ mát Brighton. Ngôi trường này do hai bà giáo đứng tuổi trông nom với kỷ luật nhẹ nhàng hơn và tại nơi đây, Winston được học về tiếng Pháp, Lịch Sử và Văn Thơ. Nhà trường cũng dạy cho học sinh về Kịch Nghệ và Winston cũng ưa thích bộ môn này.

    Sau ba năm vui sướng theo học trường Brighton, Winston phải theo bậc trung học. Sir Randolph đã nạp đơn cho con trai vào trường Harrow, một cơ sở giáo dục danh tiếng không thua gì Trường Eton. Muốn được nhận vào trường này, học sinh phải vượt qua nhiều bài thi tuyển. Winston đã không đủ điểm về môn La Tinh nhưng vì là con trai của Lord Randolph danh tiếng nên vị hiệu trưởng đặc biệt chấp nhận Winston vào trường. Vào ngày nhập học, các học sinh xếp hàng theo thứ tự điểm đậu, từ xuất sắc xuống rất kém và cậu Winston đã cảm thấy xấu hổ khi đi cuối cùng vào hội trường trước các con mắt của những người quen biết gia đình.

    Do kém về tiếng La Tinh, Winston được học nhiều hơn về tiếng Anh với bà giáo Somerwell, người đã dạy văn phạm và văn chương khác hẳn với các giáo sư khác và đã khiến cho Winston yêu thích ngôn ngữ Anh. Một thành tích của cậu Winston là đã đọc thuộc lòng 1,200 câu thơ trong cuốn thơ "Lays of Ancient Rome" (các bài thơ kể về Đế Quốc La Mã cổ) của nhà thơ và sử gia người Anh tên là Thomas Macaulay.

    Trong thời gian bốn năm rưỡi theo học tại trường Harrow, Winston phải chọn 1 trong 3 ngành dành cho con cháu của các gia đình quý tộc, đó là Luật Pháp (để theo đuổi chính trị), Tôn Giáo (để làm nghề tu sĩ) hay Quân Đội (sau này trở thành sĩ quan), còn các ngành học chuyên môn khác như Y Khoa, Khoa Học, Thương Mại … được coi là chỉ thích hợp với các trẻ em của giới trung lưu. Nhân một hôm nhìn thấy con trai đang bày chiến trận với các người lính bằng chì, Lord Randolph cho rằng việc gia nhập quân đội thích hợp với các đứa trẻ có trí thông minh bị giới hạn và hợp với sở thích của Winston.

    Năm 1893 vào tuổi 18, Winston Churchill theo học Học Viện Quân Sự Hoàng Gia (the Royal Military College) tại Sandhurst. Đây là trường Võ Bị có danh tiếng giống như trường West Point tại Hoa Kỳ. Tại trường Sandhurst, kỷ luật rất chặt chẽ, việc học dài và nghiêm minh, ngoài các môn học căn bản các sinh viên được học về Luật Pháp, Chiến Thuật và phép vẽ bản đồ. Trong dịp này, Winston bắt đầu làm quen với môn Lịch Sử Thế Giới, Lịch Sử Quân Sự cùng các câu chuyện về những cuộc chiến tranh đã qua. Winston Churchill cũng bị ám ảnh bởi các trận đánh của Napoléon. Trước mùa Giáng Sinh năm 1894, Winston Churchill tốt nghiệp Học Viện Quân Sự Sandhurst với hạng 8 trong số 150 tân sĩ quan. Hơn một tháng sau khi Winston ra trường, Lord Randolph đã qua đời vào ngày 24-1-1985 thọ 47 tuổi.

     

    2/ Quân nhân và phóng viên.

             Vào tháng 3 năm 1895, Winston Churchill rời khỏi Học Viện Quân Sự với cấp bậc Trung Uy và mong được biết tới các cuộc mạo hiểm, các cuộc chiến. Vào thời kỳ đó, chỉ có tại xứ Cuba cuộc nổi loạn của người dân địa phương chống lại chính quyền cai trị Tây Ban Nha. Hơn 80,000 lính Tây Ban Nha đã được gửi qua xứ Cuba để dùng vào công tác bình định. Luật lệ của sĩ quan người Anh là phải phục vụ quân đội trong 7 tháng. Winston Churchill muốn dùng 5 tháng nghỉ ngơi để đi Cuba làm quan sát viên. Ông đã thương lượng với nhật báo The Daily Graphic, tờ báo hàng đầu của thành phố London, để viết các bài tường thuật về chiến cuộc. Do sự giúp đỡ của vị Đại Sứ Anh và với sự vận động của gia đình, Winston Churchill được cấp giấy phép rồi cùng một người bạn sĩ quan tên là Reginald Barnes xuống tầu qua New York vào mùa thu năm 1895. Họ tới thành phố Havana, Cuba, vào tháng 11 năm đó. Người Cuba vào thời bấy giờ đã dùng chiến thuật du kích để đánh lén quân đội Tây Ban Nha và khi đi quan sát các mặt trận, Winston Churchill đã bị bắn hụt nhiều lần. Trước tình hình lực lượng nổi dậy không thể thắng nổi cuộc chiến, ông Churchill đã tiên đoán rằng người Tây Ban Nha cũng gặp tình trạng tương tự. Cuối cùng vào năm 1898, Hoa Kỳ đã đánh thắng người Tây Ban Nha, giúp cho xứ Cuba giành được độc lập.

             Sau khi trở về từ xứ Cuba, Winston Churchill phục vụ một trung đoàn Anh đóng tại Ấn Độ. Vào thời kỳ đó, Ấn Độ là một thuộc địa của nước Anh và nhiều đoàn quân Anh đồn trú trên xứ Ấn Độ để bảo vệ các cơ sở chính quyền và thương mại. Đời sống quân nhân tại Ấn Độ của một sĩ quan như Winston Churchill đã không gặp vất vả và nguy hiểm. Từ 6 giờ sáng là thời gian tập dượt, kéo dài 1 giờ 30, sau đó là giờ ăn điểm tâm. Từ 9 tới 12 giờ trưa là giờ hành chánh, các sĩ quan lo đọc và viết các văn thư. Kế tới là bữa ăn trưa kéo dài 1 giờ 30 phút rồi tới giấc ngủ trưa, cho tới 5 giờ chiều bắt đầu thời gian giải trí, gồm chơi "polo" hay các thứ khác. Winston Churchill bắt đầu yêu thích chơi polo từ lúc này.

             Vào thời gian rảnh rỗi này, Winston Churchill bắt đầu đọc các sách do mẹ gửi qua từ nước Anh: các tác phẩm viết về các nhà triết học người Hy Lạp như Socrates, Plato, Aristotle, các công trình khoa học của Charles Darwin, các sách về kinh tế của Adam Smith và Thomas Malthus, nhưng ông ưa thích nhất bộ sách lịch sử "Suy Tàn và Sụp Đổ của Đế Quốc La Mã" của Edward Gibbon.

             Từ năm 1897 tại từng phần của xứ Ấn Độ, đã có vài cuộc nổi dậy chống lại người Anh. Vào mùa hè năm đó, bộ lạc Pathan thuộc miền tây bắc đã cầm súng vùng lên. Winston Churchill được vị chỉ huy đoàn quân thứ 4 Hussars là Sir Bindon Blood nhận làm phóng viên chiến trường. Người Ấn Độ được trang bị nghèo nàn, làm sao thắng được đội quân Anh hùng hậu. Sau chiến thắng này, Winston Churchill đã có đủ kinh nghiệm và tài liệu để viết ra cuốn sách đầu tiên với tên là "Câu chuyện của lực lượng dã chiến Malakand" (the Story of the Malakand Field Force), mô tả về thành tích của Sir Bindon.

             Cuốn sách do Winston Churchil viết ra, do nhiều đặc tính xuất sắc, đã khiến cho các nhân vật cao cấp trong chính quyền Anh tại London phải chú ý. Trong một lần đi về phép, Winston Churchill được mời gặp Thủ Tướng Anh là Lord Salisbury và ông này đã hứa sẽ giúp đỡ Churchill khi cần. Vào mùa hè năm 1898, một đoàn quân Anh khác đang hoạt động tại xứ Sudan thuộc châu Phi, để dẹp cuộc nổi dậy địa phương có tên là Whirling Dervishes. Winston Churchill yêu cầu Thủ Tướng Anh cho ông được theo đoàn quân Anh do Lord Earl Kitchener chỉ huy, nhưng Lord Kitchener vì không ưa lời nói bộc trực của Churchill nên đã không chấp nhận ông vào ban tham mưu. Trong trận đánh Omdurman, Winston Churchill đi trong đội kỵ binh cuối cùng và bị quân Dervishes phục kích, giáp chiến. Trong lần giao tranh này, ông đã phải dùng gươm và súng bắn hạ kẻ địch trong tầm tay, rồi sau đó kết quả là cuốn sách "Trận Chiến Giòng Sông" (the River War) được xuất bản, mang lại danh vọng cho Churchill là một nhà văn có tài và một nhà mạo hiểm.

             Nhờ đã có danh tiếng, Winston Churchill chọn con đường chính trị nên nạp đơn xin phục vụ đảng Bảo Thủ, là đảng phái của cha mình khi trước, và được chỉ định nói chuyện trước câu lạc bộ của đảng Bảo Thủ tại tỉnh Bath. Sau buổi nói chuyện đó, nhà bình luận của tờ báo Daily Mail đã phải khen ngợi Winston Churchill và một tờ báo khác lại tiên đoán ông có thể trở thành "một lãnh tụ bình dân, một nhà báo danh tiếng hay một nhà sáng lập ra một cơ sở quảng cáo".

             Buổi nói chuyện của Winston Churchill là bước đầu trong sự nghiệp chính trị của ông. Nước Anh vào thời kỳ này cũng theo đuổi thể chế dân chủ nhưng Quốc Hội Anh gồm hai Viện. Viện Dân Biểu được gọi tên là The British House of Commons, tương đương với Hạ Viện Hoa Kỳ, còn Thượng Viện được gọi là The House of Lord, ít có quyền hành hơn, gồm các nhân vật nhận lãnh chức tước theo thừa kế hay do chỉ định bởi nhà Vua hoặc Nữ Hoàng. Nước Anh không có Tổng Thống, quyền hành pháp thuộc về Thủ Tướng, là nhân vật của Viện Dân Biểu, được bầu ra từ đảng chiếm đa số ghế. Vào mùa hè năm 1899, có hai ghế Dân Biểu trống thuộc thành phố kỹ nghệ Oldham ở mạn tây bắc. Đảng Bảo Thủ đã chọn Winston Churchill làm một ứng viên. Sau cuộc bỏ phiếu, Winston Churchill đã gặp thất bại dù rằng ông có danh tiếng và đã vận động tranh cử tích cực. Nhưng ông không nản lòng về kinh nghiệm ban đầu này.

             Winston Churchill là một con người nhiều tham vọng và nghị lực. Sau lần thất bại đầu tiên về tranh cử, ông trù liệu dấn thân vào các công tác khác. Hai cuốn sách của ông đã được xuất bản và thuộc loại bán chạy nhất, nên đã mang về cho ông một lợi tức vào khoảng 50,000 bảng Anh. Đây là một món tiền lớn đối với thời bấy giờ. Vào năm 1899, Churchill xin ra khỏi quân đội Anh để chuẩn bị một chuyến mạo hiểm khác.

             Vào thời đó, một trận chiến khác đang diễn ra tại xứ Nam Phi thuộc châu Phi. Đây là một miền đất do người Anh và người Hòa Lan xâm chiếm. Người Hòa Lan, được gọi là người Boers hay Dutch Afrikaaneers, đã tới miền cực nam của châu Phi vào đầu thế kỷ 16 để tìm tự do tôn giáo và một đời sống mới, đồng thời với nhóm người Pilgrims từ nước Anh dùng tầu thuyền qua Bắc Mỹ. Người Anh đặt chân lên châu Phi trễ hơn, bắt đầu bằng một thuộc địa tại Cape Town. Khởi đầu do Sir Cecil Rhodes, người Anh đã tìm thấy trong đất đai của xứ Nam Phi có rất nhiều vàng và kim cương. Tại xứ Nam Phi này, hai sắc dân Hòa Lan và Anh đã không hòa hợp được với nhau. Vào năm 1881, người Boers, hay sắc dân gốc Hòa Lan, nắm giữ được chính quyền trong khi người Anh làm chủ nhiều nhà máy và nhiều tiền đồn đóng quân. Trong thập niên 1890, người Anh bắt đầu phản đối chính quyền địa phương vì họ bị đánh thuế mà không có đại diện và tranh chấp đã diễn ra, giống như tại miền Bắc Mỹ. Tới năm 1899, quân đội của người Boers đã bao vây các trại quân Anh đồn trú tại hai thành phố Mafeking và Ladysmith.

    Cuộc xung đột tại xứ Nam Phi đã làm cho Winston Churchill chú ý. Winston xin được chân phóng viên chiến trường của tờ báo The London Daily Mail và vào ngày 11-10-1899, xuống tầu đi Nam Phi. Vào cuối tháng 10 năm đó, Winston cập bến Cape Town thì trận chiến đang diễn ra tại Ladysmith, cách đó 700 dậm về phía tây bắc. Phải mất nhiều ngày dùng xe lửa và đi xe, Winston tới được thành phố Durban hiện do người Anh chiếm đóng. Ngày 14-11 năm đó, một chuyến xe lửa bọc thép chạy từ Durban tới Ladysmith do Đại Uy John Haldane chỉ huy. Viên đại úy này đã mời nhà báo danh tiếng là Churchill cùng đi nhưng không may, đoàn tầu đã lọt vào ổ phục kích của người Boers. Đại úy Haldane, Churchill và toàn thể đội quân Anh đều bị bắt rồi bị giải về Pretoria, thủ phủ của người Boers, cách đó 300 dậm về phía bắc. Tất cả 6 sĩ quan và các người hầu bị nhốt trong một ngôi trường học có hàng rào kẽm gai, còn gần 2,000 binh lính Anh bị giữ trong một doanh trại gần đó. Như vậy, vào ngày sinh nhật thứ 21, Winston Churchill là một tù binh chiến tranh. Cùng với đại úy Haldane và hai người khác, Winston Churchill bàn kế hoạch vượt ngục. Vào nửa đêm ngày 11 tháng 12, Winston đã trèo được ra ngoài hàng rào nhưng các người kia không ra được, nên ông đành phải trốn đi một mình. Ông đã đi trong đêm tối, nhẩy lên một chiếc xe lửa. Do mạo hiểm và gặp may mắn trên đường lẩn trốn, Winston được một người Anh định cư tại xứ Nam Phi giúp đỡ nên tới được thị trấn Laurenco Marques, là thủ đô của thuộc địa Bồ Đào Nha, cách xa Pretoria 300 dậm.

    Winston Churchill đã ở lại Nam Phi trong nhiều tháng để tường thuật về cuộc chiến tranh với người Boers, về việc giải vây hai thành phố Mafeking và Ladysmith. Các bài viết của ông đã hấp dẫn độc giả tại nước Anh và cả tại Hoa Kỳ rồi sau này được xuất bản thành sách, thuộc loại bán chạy nhất, có tên là "Từ London tới Ladysmith".

    Winston Churchill trở về nước Anh vào tháng 7-1900 và được đón mừng như một vị anh hùng. Danh tiếng của Churchill được nhiều người biết tới nên đảng Bảo Thủ Anh lại yêu cầu ông ra tranh cử tại thành phố Oldham, nơi mà trước kia ông đã gặp thất bại. Trong cuộc vận động kỳ này, đảng Cấp Tiến (the Liberals) đã tìm cách dèm pha ông nhưng chiến thuật của họ đã không có kết quả. Ngày 1-10-1900, Winston Churchill được bầu vào Quốc Hội Anh.

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 05:09 31/08/2010
    Số lượt xem: 1498
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến