Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    Anh_Van_Giao_Tiep_Cho_Nguoi_Hoan_Toan_Mat_Goc___Ruby_Thao_Tran.flv NoiNayCoAnhSonTungMTP4772041.mp3 Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf Bai_ca_nguoi_giao_vien_nhan_dan.swf

    Thành viên trực tuyến

    88 khách và 2 thành viên
  • Lưu Thị Lương
  • Nguyễn Bích Ngọc
  • Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Lịch sử Thế giới >

    LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI: Chiến tranh thế giới thứ hai và quan hệ quốc tế trong chiến tranh 1939-1945


     cttg_ii_500

     

    A.Giai đoạn thứ nhất (9-1936 đến 6-1941): phe phát xít xâm chiếm châu Âu, mở rộng chiến tranh ở Đông Nam Á và Bắc Phi.

    1. Phát xít Đức tấn công Ba Lan và xâm chiếm các nước Bắc Âu – Tây Âu.

    Ngày 1 - 9 - 1939 phát xít Đức bất ngờ tấn công Ba Lan với một lực lượng quân sự hùng hậu, được chuẩn bị kỹ càng: 70 sư đoàn gồm khoảng 1,5 triệu quân (trong đó có 7 sư đoàn xe tăng, 6 sư đoàn cơ giới), trên 3000 máy bay chiến đấu.

    Tập tin:Poland1939 GermanPlanMap.jpg

    Kế hoạch tấn công  Ba Lan của Đức -“Chiến dịch Tháng Chín”

     Ngày 3 - 9, chính phủ Anh, Pháp tuyên chiến với Đức. Chiến tranh thế giới bùng nổ. Với ưu thế tuyệt đối về quân sự và trang bị, quân Đức thực hiện chiến lược “chiến tranh chớp nhoáng”, dùng xe tăng, máy bay oanh tạc, phá vỡ phòng tuyến và tiến sâu vào lãnh thổ Ba Lan với tốc độ 50 - 60km một ngày. Chính phủ Ba Lan không cứu vãn được tình thế, phải lưu vong sang Anh, trong lúc quân dân Ba Lan chiến đấu ngoan cường chống trả quân Đức.

    Ngày 28 - 9, sau gần một tháng tấn công, quân Đức chiếm được Ba Lan. Trên thực tế, Ba Lan đã đơn độc chiến đấu chống trả quân Đức, không nhận được sự hỗ trợ từ bên ngoài. Với tư cách là đồng minh của Ba Lan, hai nước Anh, Pháp lúc bấy giờ có tới 110 sư đoàn dàn trận ở phía Bắc nước Pháp, dọc theo biên giới Đức. Nhưng quân Anh, Pháp không tấn công Đức và cũng không có bất kỳ một hành động quân sự nào hỗ trợ cho Ba Lan. Tình trạng đó kéo dài suốt 8 tháng (từ tháng 9 - 1939 đến tháng 4 - 1940) và được dư luận gọi là “cuộc chiến tranh kỳ quặc”. Sở dĩ có hiện tượng này là do giới cầm quyền Anh, Pháp vẫn nuôi ảo tưởng về một sự thoả hiệp với Hítle, tiếp tục chính sách Muyních với hy vọng quân Đức sẽ chĩa mũi nhọn chiến tranh về phía Liên Xô. Đồng thời hiện tượng này còn được lí giải bằng việc Bộ tổng tư lệnh liên quân, đứng đầu là tướng Pháp Gamơlanh đã quyết định áp dụng chiến lược phòng ngự, dựa vào phòng tuyến Maginô kiên cố để đánh trả quân Đức. Lợi dụng tình hình đó, sau khi chiếm được Ba Lan và tăng gấp đôi lực lượng quân sự, phát xít Đức tập trung quân ở phía Tây để tấn công NaUy.

         Ngày 9 - 4 - 1940, quân Đức tràn vào Đan Mạch. Đan Mạch đầu hàng, không kháng cự. Cùng ngày, quân Đức đổ bộ vào Na Uy. Na Uy được quân viễn chinh Anh, Pháp hỗ trợ, đã chiến đấu trong hai tháng mới chịu khuất phục.
              Không cần chờ đợi chiến dịch Na Uy kết thúc, ngày 10 - 5 - 1940 quân Đức tràn vào Bỉ, Hà Lan, Lúcxembua và Pháp. Mặt trận phía Tây chính thức bắt đầu. Với chiến lược “chiến tranh chớp nhoáng”, quân Đức tập trung đánh vào cánh trái của liên quân Anh, Pháp (phòng tuyến Maginô ở cánh phải).

    Dania norvegia 1940.png

    Bản đồ sơ lược chiến dịch Weserübung

    Quân Đức tràn vào Hà Lan và Bỉ. Ngày 15 - 5, quân đội Hà Lan đầu hàng, chính phủ Hà Lan bỏ chạy sang Luân Đôn. Ngày 27 - 5, Bỉ đầu hàng vô điều kiện. Tàn quân Anh, Pháp gồm 34 vạn người bị dồn đuổi đến cảng Đongkéc (Dunkerque) ở Bắc Pháp, phải xuống tầu, tháo chạy về Anh. Mặt trận Pháp bị đập tan, quân Đức tiến về Pari như vũ bão. Chính phủ Pháp bỏ Pari, chạy về Boócđô và đưa Thống chế Pêtanh lên cầm quyền để xin đình chiến với Đức. Nước Pháp đã đầu hàng sau 6 tuần chiến đấu. Theo Hiệp định đình chiến ký ngày 22 - 6 - 1940, quân Đức chiếm đóng 2/3 lãnh thổ Pháp, trong đó có Pari và các trung tâm công nghiệp (nơi sản xuất 98% sản lượng gang và thép của Pháp), vùng Andát và Loren bị sáp nhập vào Đức, nước Pháp bị tước vũ trang và phải nuôi quân đội chiếm đóng. Chính phủ bù nhìn Pháp do Pêtanh làm Quốc trưởng đóng tại thị trấn Visi, vùng không chiếm đóng ở phía Nam nước Pháp.


    duc_vao_pa_ri_400 

    Quân Đức tiến vào Pari

    Tập tin:France 40-44.png

    Tình hình nước Pháp sau ngày 25 tháng 6 năm 1940. Những vùng bị tô màu là khu vực bị chiếm đóng hoặc khu phi quân sự. Vùng đất trống thuộc chính phủ Vichy.

    Tập tin:Bundesarchiv Bild 183-L05487, Paris, Avenue Foch, Siegesparade.jpg

    Quân Đức diễu hành chiến thắng tại Khải Hoàn Môn, Paris ngày 14 tháng 6 năm 1940

    Sau tấn thảm kịch của nước Pháp, nước Anh đơn độc kháng cự với kế hoạch đổ bộ “Sư tử biển” của quân Đức, bắt đầu từ tháng 7 - 1940. Sau đó, Hítle thay đổi kế hoạch và quyết định tiến hành chiến dịch “Tia điện không trung” tàn phá nước Anh. Cuộc oanh tạc bằng không quân Đức đã tàn phá nặng nề các thành phố lớn của Anh như Luân Đôn, Côventơry, Livớcpun… Chỉ trong vòng 3 tháng đầu, quân Đức đã giội 10.000 tấn bom xuống lãnh thổ của Anh. Nước Anh quyết chiến đấu chống trả quân Đức và đã giành được ưu thế trong các trận không chiến và hải chiến. Từ tháng 9 - 1940, Mĩ bắt đầu viện trợ cho Anh. Những “cuộc chiến chớp nhoáng trên không” của Đức suy yếu dần. Từ giữa tháng 10 - 1940, quân Đức rút dần lực lượng khỏi khu vực này. Kế hoạch đổ bộ và chiếm đóng nước Anh đã không bao giờ thực hiện được.

     chien_truong_chau_au_va_bac_phi_500_02

    Chiến trường Châu Âu và Bắc Phi

    2. Phe trục củng cố liên minh và mở rộng xâm lược ở Đông Nam Âu, Đông Á và Bắc Phi 9- 9-1940 đến 6-1941)

    Ngày 27 - 9 - 1940, Đức, Italia và Nhật đã ký kết hiệp ước đồng minh quân sự và chính trị ở Béclin, được gọi là Hiệp ước Tay ba. Hiệp ước thừa nhận sự thống trị của Đức, Italia ở châu Âu và của Nhật ở khu vực Đại ĐôngÁ. Hiệp ước quy định, nếu một trong ba nước bị kẻ thù mới tấn công thì hai nước kia phải lập tức trợ giúp về mọi mặt. Khối liên minh phát xít đã được củng cố và xiết chặt thông qua hiệp ước này.

    Tháng 10 - 1940, Italia tấn công Hi Lạp và dự định chiếm được đất nước này một cách nhanh chóng. Nhưng quân xâm lược đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của Hi Lạp. Được Anh trợ giúp, Hi Lạp phản công, quét sạch quân Italia và chiếm luôn Anbani (thuộc Italia). Trước tình hình khó khăn của Italia, tháng 4 - 1941, quân Đức tấn công Nam Tư và Hi Lạp. Chính phủ Nam Tư bỏ chạy ra nước ngoài. Quân đội Anh đang tham chiến ở Hi Lạp cũng bị đánh bại. Nam Tư và Hi Lạp bị chiếm đóng. Quân Đức thiết lập chính quyền bù nhìn và cắt một phần lãnh thổ của hai nước này chia cho Italia, Hunggari và Bungari. Như vậy, tới mùa hè năm 1941, hầu như tất cả các nước châu Âu đều bị chiếm đóng hoặc lệ thuộc nặng nề vào phát xít Đức và Italia. Trên thực tế chỉ còn nước Anh chưa bị chiếm đóng nhưng đang nằm trong sự phong toả của quân Đức. Ngoài ra, ba quốc gia khác còn nằm ngoài vòng cương toả của chủ nghĩa phát xít là Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển và Airơlen. Chỉ trong vòng chưa đầy hai năm kể từ khi châm ngòi lửa chiến tranh, nước Đức phát xít đã hoàn tất những chiến lược quân sự quan trọng và chuẩn bị đầy đủ điều kiện để tấn công Liên Xô.

    Ở Đông Á, khi chiến tranh bùng nổ ở châu Âu (9 - 1939), Nhật Bản đã tiếp tục mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc và Viễn Đông. Tháng 6 - 1940, Chính phủ Nhật công bố chính sách xây dựng “Khu vực thịnh vượng chung Đại Đông Á”, thể hiện rõ tham vọng bành trướng của mình.

    Tháng 9 - 1940, Nhật gửi tối hậu thư cho Chính phủ Pêtanh, yêu cầu phải cho Nhật đóng quân và xây dựng các căn cứ quân sự ở Bắc Kỳ (Đông Dương thuộc Pháp) để phục vụ cho cuộc chiến ở Trung Quốc. Chính phủ Pháp buộc phải chấp nhận yêu sách của Nhật. Tháng 9 - 1940 quân Nhật vào Bắc Kỳ và coi đó như một chiếc cầu nối để chuẩn bị xâm lược khu vực Đông Nam Á .

    Ở Bắc Phi, tháng 9 - 1940, quân Italia từ Libi (thuộc Italia) tấn công Ai Cập (thuộc Anh). Cuối năm 1940, quân Anh phản công tiến vào Libi. Quân Đức phải đưa “Quân đoàn châu Phi” của tướng Rômmen sang cứu viện cho Italia. Liên quân Đức - Italia phản công, đẩy lùi quân Anh về biên giới Ai Cập. Nhìn chung, trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh, với ưu thế áp đảo về quân sự, phe phát xít giành được quyền chủ động tấn công trên mặt trận Tây Âu, Bắc Phi và áp đặt sự thống trị của mình trên đại bộ phận lãnh thổ Tây và Trung Âu.

    3. Quan hệ của Liên Xô  với một số nước Đông Âu.

    Thắng lợi nhanh chóng của quân Đức trên chiến trường châu Âu đã đặt Liên Xô đứng trước một tình thế ngày càng nghiêm trọng: phải đối mặt với phát xít Đức ở phía Tây và phát xít Nhật ở phía Đông. Trong bối cảnh đó, việc tăng cường lực lượng quốc phòng và đảm bảo an ninh quốc gia là vấn đề hết sức cấp bách và phải thực hiện bằng bất cứ giá nào. Đó là nguyên nhân lý giải việc Liên Xô tiến quân vào miền Đông Ba Lan ngày 17 - 9 - 1939 thu hồi vùng lãnh thổ Tây Ucraina và Tây Bêlarút nhằm củng cố biên giới phía Tây của mình. Điều này cũng phù hợp với những thoả thuận trong Nghị định thư bí mật ký kèm với Hiệp ước không xâm lược Xô - Đức (23 - 8 - 1939). Sau đó, ngày 28 - 9 - 1939 tại Matxcơva, Liên Xô và Đức đã ký kết Hiệp ước “Hữu nghị và biên giới” kèm Nghị định thư bí mật, theo đó Lítva sẽ thuộc phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô, còn khu vực Liublin và một phần Vacxava thuộc phạm vi ảnh hưởng của Đức.

    Hai tháng sau, tháng 11 - 1939 vùng Tây Ucraina được sáp nhập vào nước Cộng hoà Xô viết Ucraina và vùng Bêlarút sáp nhập vào nước Cộng hoà Xô viết Bêlarút thuộc Liên Xô. Đối với các nước ven biển Bantích, Liên Xô cũng thực hiện hàng loạt biện pháp để tăng cường phòng thủ an ninh quốc gia trong bối cảnh chiến tranh đang lan rộng ở châu Âu. Trải qua những cuộc thương lượng căng thẳng, ba nước Bantích đã lần lượt ký các Hiệp ước tương trợ lẫn nhau với Liên Xô: Extônia (28 - 9 - 1939), Látvia (5 - 10), Lítva (10 - 10). Trước những diễn biến nhanh chóng của tình hình chiến sự ở châu Âu, tháng 6 - 1940, dưới áp lực quân sự của Liên Xô, các chính phủ ở ba nước Bantích đều phải từ chức, nhường chỗ cho các chính phủ mới thành lập. Trong tháng 7 - 1940 đã diễn ra các cuộc bầu cử Quốc hội ở các nước này. Quốc hội ba nước đã thông qua đề nghị gia nhập vào Liên Xô. Tháng 8 - 1940, Xô viết tối cao đã chấp nhận và thông qua đạo luật về việc ba nước vùng Bantích gia nhập Liên Xô. Các chính phủ Anh, Mĩ đã quyết định không công nhận và thi hành chính sách thù địch với chính quyền mới, trong khi đó vẫn tiếp tục duy trì quan hệ với các chính phủ cũ đã bị lật đổ ở các nước này.

    Nhằm mục đích phòng thủ biên giới phía Tây Bắc, tháng 10 - 1939 Liên Xô đã tiến hành đàm phán với chính phủ Phần Lan về việc ký kết Hiệp ước tương trợ lẫn nhau nhưng Phần Lan đã không chấp nhận những đề nghị của Liên Xô. Sau những diễn biến căng thẳng trong quan hệ song phương, Liên Xô cắt đứt quan hệ ngoại giao với Phần Lan.

    Tháng 11 - 1939, Chiến tranh Xô - Phần bùng nổ và tiếp diễn trong suốt mùa đông (11 - 1939 đến 3 - 1940) với thất bại quân sự của Phần Lan. Ngày 12 - 3 - 1940, Hoà ước Xô - Phần được ký kết, Phần Lan phải nhượng cho Liên Xô eo đất Carêli, phần lãnh thổ phía Tây Bắc hồ Lađôga và một số đảo trong vịnh Phần Lan. Theo đó, biên giới Liên Xô được lùi xa thêm 150 km về phía Phần Lan. Đồng thời Liên Xô còn được quyền thuê cảng Hancô và một số đảo phụ cận trong vòng 30 năm với số tiền 8 triệu mác Phần Lan.

    Các cường quốc tư bản phương Tây đã phản đối hành động của Liên Xô trong cuộc chiến tranh Xô - Phần. Ngày 14 - 12 - 1939 Hội Quốc Liên đã thông qua Nghị quyết khai trừ Liên Xô ra khỏi tổ chức này. Các nước Anh, Pháp đã giúp đỡ về quân sự cho chính phủ Phần Lan trong thời gian diễn ra cuộc chiến. Cũng trong mùa hè năm 1940, Liên Xô đã giải quyết xong việc sát nhập vùng Bétxarabia và Bắc Bucôvina, vốn vẫn ở trong tình trạng tranh chấp lâu dài giữa Nga với Rumani, vào lãnh thổ Liên Xô. Chính sách đối ngoại của Liên Xô đối với một số quốc gia ở Đông Âu trong thời kỳ này đã tạo điều kiện tăng cường khả năng phòng thủ quốc gia ở biên giới phía Tây, mở rộng thêm lãnh thổ và tiềm lực kinh tế của đất nước.

    Trong bối cảnh quốc tế cực kỳ căng thẳng lúc bấy giờ, đối với Liên Xô chính sách đó có thể xem như một giải pháp tình thế để đối phó với nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa phát xít. Mặt khác, đối với các nước vùng Bantích, việc gia nhập vào Liên bang cộng hoà XHCN Xô viết cũng tạo ra cho họ một chỗ dựa vững chắc trong tình hình số phận của cả châu Âu đang được đặt trong “Trật tự mới” của chủ nghĩa phát xít. Tuy nhiên, chính sách đối ngoại mà các nhà lãnh đạo Liên Xô thực hiện đối với một số nước Đông Âu trong thời kỳ này cũng để lại những bài học cần được rút kinh nghiệm quan trong quan hệ quốc tế.

    B. Giai đoạn thứ hai (6-1941 đến 11-1942): chiến tranh lan rộng toàn thế giới và sự hình thành Mặt trận Đồng minh chống phát xít.

    1. Phát xít Đức tấn công Liên Xô (6-1941 đến 11-1942)

    Sau khi hoàn thành việc đánh chiếm châu Âu, phát xít Đức đã chuẩn bị đầy đủ điều kiện để tấn công Liên Xô. Ngay từ tháng 8 - 1940, kế hoạch tấn công Liên Xô đã bắt đầu được soạn thảo. Tháng 12 - 1940, Hítle phê chuẩn kế hoạch tấn công Liên Xô, mang mật danh “Kế hoạch Bácbarốtxa”.

     Tập tin:Operation Barbarossa.jpg

    Bản đồ ý đồ chiến lược của kế hoạch Barbarossa

    Rạng sáng ngày 22 - 6 - 1941, không hề tuyên chiến và không nêu bất cứ lý do nào, phát xít Đức bất ngờ tấn công Liên Xô. Với một lực lượng quân sự khổng lồ: 5,5 triệu quân, gồm 190 sư đoàn (153 sư đoàn Đức và các sư đoàn của Italia, Rumani, Phần Lan, Hunggari…) trong đó có 17 sư đoàn xe tăng (hơn 4000 chiếc) và trên 5000 máy bay, quân Đức áp dụng chiến lược “chiến tranh chớp nhoáng” nhằm “đánh quỵ nước Nga” trong vòng từ một tháng rưỡi đến hai tháng. Ba đạo quân Đức đặt dưới quyền tổng chỉ huy của thống chế Phôn Bơraosít đồng loạt tấn công, phá vỡ các tuyến phòng thủ biên giới, đánh thiệt hại nặng quân đội Xô viết và tiến sâu vào lãnh thổ Liên Xô. Cuối tháng 9 - 1941, đạo quân phía Bắc (do thống chế PhônLép cầm đầu) đã bao vây Lêningrát, đạo quân Trung Tâm (do thống chế Phôn Bốc chỉ đạo) đã tiến sát thủ đô Matxcơva và đạo quân phía Nam (do thống chế Phôn Runxtét chỉ huy) đã chiếm Kiép và phần lớn Ucraina. Chiến tuyến ngày càng mở rộng, quân Đức ngày càng gặp khó khăn và bị tổn thất hơn rất nhiều lần so với các mặt trận khác.

     Tập tin:Battle of Moscow.jpg

     Người dân Moskva đào hào chống tăng, tháng 10 năm 1941

    Tháng 10 - 1941, quân Đức tập trung lực lượng mở cuộc tấn công mãnh liệt vào Matxcơva với hy vọng thắng lợi ở đây sẽ quyết định kết cục của chiến tranh. Với 80 sư đoàn, trong đó có 23 sư đoàn xe tăng và cơ giới (khoảng 1 triệu quân), gần 1000 máy bay, chiếm ưu thế áp đảo với Hồng quân Liên Xô, quân đội phát xít ào ạt mở hai đợt tấn công đại quy mô vào Matxcơva trong tháng 10 và tháng 11 - 1941. Trong giờ phút nguy kịch đó, Hồng quân và nhân dân Liên Xô kiên quyết chiến đấu đến cùng bảo vệ Matxcơva. Sáng ngày 7 - 11, lễ kỷ niệm lần thứ 24 Cách mạng tháng Mười đã diễn ra một cuộc duyệt binh đặc biệt. Các đơn vị Hồng quân diễu binh qua Hồng trường đã tiến thẳng ra mặt trận chiến đấu với quân thù. Ngày 6 - 12 - 1941, Hồng quân chuyển sang phản công ở Matxcơva và sau hai tháng chiến đấu đã đẩy lùi quân Đức ra khỏi thủ đô, có nơi đến 400 km. Kế hoạch đánh chiếm Matxcơva của Hítle sụp đổ tan tành. Đạo quân Trung tâm của Đức bị tiêu diệt tổng cộng hơn 500.000 quân, 1.300 xe tăng, 2.500 đại bác và nhiều phương tiện kỹ thuật khác. Chiến thắng Mátxcơva đã làm phá sản hoàn toàn “chiến lược chiến tranh chớp nhoáng” của đội quân “trước đây được coi là không thể đánh bại”. Đây là thắng lợi lớn đầu tiên của Liên Xô và thất bại lớn đầu tiên của Đức kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Thắng lợi này đã cổ vũ niềm tin vào chiến thắng của nhân dân thế giới đối với chủ nghĩa phát xít và thúc đẩy sự ra đời của Mặt trận Đồng minh chống phát xít trên toàn thế giới.

     

    Sau thất bại ở Mátxcơva, mùa hè năm 1942 quân Đức lại một lần nữa dốc toàn lực lượng vào mặt trận Xô - Đức, chuyển trọng tâm tấn công xuống phía Nam, nhằm đánh chiếm vùng dầu lửa chiến lược, vựa lúa mì lớn nhất của Liên Xô ở khu vực sông Vonga và Cápcadơ, để rồi sau đó sẽ đánh chiếm Mátxcơva từ phía sau. Mục tiêu chủ yếu của cuộc tấn công là chiếm bằng được Xtalingrát (nay là Xarítxưn). Nhờ ưu thế hơn hẳn về lực lượng, lúc đầu là 240 sư đoàn, sau tăng lên 260 sư đoàn, đến giữa tháng 8 - 1942, quân Đức đã tiến vào khu vực thành phố Xtalingrát. Cuộc chiến đấu ác liệt diễn ra ngay trong thành phố. Xtalingrát lúc này đã trở thành “nút sống” của Liên Xô. Với quyết tâm “không lùi một bước”, “thề chết bảo vệ thành phố” các chiến sĩ Hồng quân kiên quyết chiến đấu bằng bất cứ giá nào, đẩy lùi từng đợt tấn công của địch. Mỗi ngày đêm, Hồng quân đã chống trả từ 12 đến 15 đợt tấn công của quân Đức. Trải qua 4 tháng chiến đấu, Xtalingrát vẫn đứng vững, đồng thời Hồng quân còn tiêu diệt được một bộ phận lớn sinh lực địch và chuẩn bị điều kiện cho bước ngoặt phản công quân Đức ở thành phố anh hùng này.

    Nhìn chung, ở mặt trận Xô Đức đến cuối năm 1942, quân Đức đã chiếm được khoảng 2 triệu km2 lãnh thổ Liên Xô (bao gồm 47% diện tích đất trồng trọt, 33% sản lượng công nghiệp, 45% dân số cả nước). Tuy nhiên, quân Đức đã vấp phải những thất bại đầu tiên, không chiếm được Mátxcơva và kế hoạch “chiến tranh chớp nhoáng” đã hoàn toàn bị phá vỡ.

    2. Chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ.

    Trong lúc chiến tranh diễn ra ác liệt ở châu Âu, Nhật Bản tìm cách thực hiện kế hoạch xâm chiếm và bành trướng lãnh thổ ở châu Á. Nhưng kế hoạch của Nhật đã vấp phải sự phản đối của Mĩ, quan hệ Nhật - Mĩ trở nên căng thẳng.

    Tháng 9 - 1940, khi Nhật đổ bộ vào Bắc Kỳ, Mĩ bắt đầu viện trợ cho Trung Quốc kháng Nhật, đồng thời thực hiện chính sách cấm vận dầu lửa, sắt, thép cho phe Trục phát xít. Tháng 7 - 1941, chính quyền Nhật buộc Pêtanh, cho Nhật đóng quân ở miền Nam Đông Dương. Pêtanh phải chấp nhận, nhưng Mĩ kiên quyết phản đối âm mưu bành trướng của Nhật ở Đông NamÁ. Tổng thống Mĩ Rudơven ra lệnh phong toả tài sản của Nhật ở Mĩ, đồng thời yêu cầu Nhật rút quân khỏi Đông Dương. Sau những cuộc đàm phán kéo dài không có kết quả, mâu thuẫn Mĩ - Nhật đã lên đến đỉnh cao và Thủ tướng Nhật Tôgiô quyết định tiến hành chiến tranh với Mĩ.

     chau_a_thai_binh_duong_500

     

    Ngày 7 - 12 - 1941, vào lúc 7 giờ 55 phút giờ địa phương, không quân và hải quân Nhật, dưới sự chỉ huy của đô đốc Yamamôtô đã mở cuộc tấn công bất ngờ vào Hạm đội Thái Bình Dương của Mĩ ở Trân Châu Cảng. Chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ. Cuộc tập kích bất ngờ và dữ dội của quân đội Nhật đã gây cho hạm đội Mĩ những tổn thất nặng nề chưa từng có trong lịch sử hải quân Mĩ: 18 hạm tàu và trên 300 máy bay bị phá huỷ, hơn 3.000 binh lính và sĩ quan Mĩ thiệt mạng. Cùng lúc đó, quân Nhật đổ bộ vào miền Bắc Mã Lai (thuộc Anh). Trận Trân Châu Cảng đã khiến Mĩ, Anh phải tuyên chiến với Nhật ngày 8 - 12. Ba ngày sau, ngày 11 - 12, Đức và Italia tuyên chiến với Mĩ. Chiến tranh lan rộng trên toàn thế giới.

     

    Từ cuối năm 1941 đến tháng 5 - 1942, Nhật Bản phát động cuộc tán công toàn diện ở Đông Nam Á và Thái Bình Dương, đánh chiếm các thuộc địa của Mĩ, Anh, Pháp, Hà Lan… ở khu vực này. Đạo quân phương Nam của nguyên soái Têrauchi đặt Bộ tư lệnh ở Sài Gòn để chỉ huy chiến dịch đánh chiếm Đông Nam Á. Ngày 8 - 12, quân Nhật chiếm Thái Lan, ký kết Liên minh Nhật - Thái. Thái Lan trở thành chư hầu của Nhật và tuyên chiến với Mĩ - Anh ngày 24 - 12. Quân đội Nhật lần lượt đánh chiếm các thuộc địa của Anh như Mã Lai (1 - 1942), Xingapo (2 - 1942) và Miến Điện (5 - 1942). Hải quân Nhật đánh tan hạm đội của liên quân Hà Lan - Anh - Mĩ - ôxtrâylia trong trận hải chiến trên biển Giava (27 - 2 - 1942) và chiếm toàn bộ Inđônêxia (3 - 1942). Đồng thời với cuộc đổ bộ vào Mã Lai, Nhật cũng tiến hành đánh chiếm quần đảo Philíppin. Cuộc chiến ác liệt diễn ra giữa quân Nhật và quân đội Mĩ kéo dài đến tháng 5 - 1942, cuối cùng Nhật đã chiếm được toàn bộ Philíppin.

    Đồng thời với việc đánh chiếm Đông Nam Á, quân Nhật mở rộng xâm lược ở Thái Bình Dương, chiếm các đảo Guam, Uâycơ của Mĩ. Tháng 4 - 1941, Nhật chiếm phần lớn đảo Tân Ghinê, trực tiếp uy hiếp ôxtrâylia. Quân Mĩ đã ngăn chặn được quân Nhật trong trận hải chiến ở vùng biển Sanhô (Corail) tháng 5 - 1942. Tiếp đó, tại vùng biển quần đảo Mít uây, hải quân Nhật gặp phải một thất bại lớn trong trận hải chiến với liên quân Mĩ - Anh tháng 6 - 1942. Tháng 7 - 1942, Nhật tiến đánh quần đảo Salômông nhưng bị quân Mĩ chặn đánh quyết liệt tại Guađanacan. Như vậy, chỉ trong vòng nửa năm sau khi chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, quân Nhật đã chiếm được toàn bộ khu vực Đông Nam Á, các đảo ở Nam Thái Bình Dương… tổng cộng vào khoảng gần 4 triệu km2 với số dân 150 triệu người. Nếu tính cả phần lãnh thổ đã chiếm của Trung Quốc, Nhật đã làm chủ một vùng đất rộng 7 triệu km2 với 500 triệu dân. Tuy nhiên, cũng từ mùa hè năm 1942, quân Nhật đã mất dần ưu thế quân sự ban đầu và không còn khả năng tấn công được nữa. Thất bại của hạm đội Nhật ở vùng San hô và quần đảo Mítuây đã làm các mũi tấn công của Nhật chững lại. Mặc dù vậy, liên quân Anh - Mĩ cũng chưa tiến hành cuộc phản công thực sự để đánh bại quân Nhật ở Thái Bình Dương.

    3. Sự hình thành Mặt trận Đồng Minh chống Phát xít .

    Sau khi phát xít Đức tấn công Liên Xô và chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, hầu hết các nước trên thế giới đã bị lôi cuốn vào vòng chiến. Việc thành lập một liên minh quốc tế chống phát xít đã trở thành đòi hỏi bức thiết của các lực lượng dân chủ và yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Liên Xô đã làm thay đổi cục diện chính trị và quân sự của chiến tranh. Đó là cuộc chiến tranh chính nghĩa không chỉ nhằm bảo vệ Liên Xô mà còn nhằm chống lại cuộc chiế n tranh tàn khốc của chủ nghĩa phát xít ở châu Âu. Điều đó đã thúc đẩy nhân dân Mỹ, Anh đấu tranh đòi các chính phủ của họ phải thay đổi thái độ và liên minh với Liên Xô trong cuộc chiến tranh chống phát xít. Việc ký kết Hiệp ước Xô - Anh về hành động chung trong cuộc chiến tranh chống Đức (12 - 7 - 1941), sự ra đời của bản Tuyên bố chung giữa Mỹ và Anh - thường được gọi là Hiến chương Đại Tây Dương (14 - 8 - 1941) - và việc Liên Xô tham gia Hiến chương này (24 - 9 - 1941) đã tạo ra những điều kiện cần thiết để thành lập một Mặt trận Đồng minh chống phát xít. Tháng 10 - 1941, Nghị định thư Xô - Anh - Mỹ đã được ký kết tại Mátxơcơva, theo đó Mỹ - Anh sẽ viện trợ vũ khí cho Liên Xô. Liên Xô cam kết đền bù lại bằng nguyên vật liệu cho ngành công nghiệp quân sự. Cuối năm 1941, việc thành một một Mặt trận Đồng minh chống phát xít ngày càng trở nên cấp thiết và những điều kiện để thành lập mặt trận đã đầy đủ. Sự xích lại gần nhau giữa ba cường quốc Xô - Anh - Mĩ đã tạo nền tảng quan trọng cho sự hình thành Mặt trận Đồng minh chống phát xít.

    Ngày 1 - 1 - 1942 tại Oasinhtơn đại diện cho 26 nước, đứng đầu là Liên Xô, Mỹ, Anh ký kết vào bản Tuyên bố Liên hiệp quốc “cam kết dốc toàn bộ sức mạnh quân sự và kinh tế của đ ất nước vào cuộc chiến tranh chống phát xít và tay sai của chúng”, đồng thời hợp tác chặt chẽ với nhau, không ký kết hiệp định đình chiến hay hoà ước riêng rẽ với các nước thù địch. Tuyên bố Liên hiệp quốc đánh dấu sự hình thành Mặt trận Đồng minh chống phát xít trên phạm vi toàn thế giới. Mặc dù mục đích của các bên tham gia có nhiều điểm khác nhau, nhưng sự hình thành lần đầu tiên trong Lịch sử thế giới một Mặt trận bao gồm các quốc gia có chế độ xã hội khác nhau cùng phối hợp chiến đấu chống kẻ thù ch ung là một nhân tố quan trọng đảm bảo thắng lợi của cuộc chiến tranh chống phát xít và tạo cơ sở cho việc hình thành tổ chức Liên Hiệp Quốc.

    4. Phong trào kháng chiến của nhân dân các nước bị phát xít chiếm đóng .

    Cuộc chiến tranh xâm lược của phát xít Đức, Italia và Nhật Bản đã đẩy nhân dân các nước bị chiếm đóng vào một thời kỳ đen tối. Phát xít Đức thiết lập chế độ thống trị bằng bạo lực, khủng bố và xây dựng cái gọi là “Trật tự mới” ở châu Âu. Chính quyền phát xít ra sức vơ vét nhân lực, của cải của châu Âu để phục vụ cho bộ máy chiến tranh khổng lồ của chúng.

     Hơn 7 triệu người dân các nước châu Âu đã bị đưa sang Đức làm lao động khổ sai. Những đoàn tàu đêm ngày chuyên chở nguyên vật liệu, của cải của châu Âu về Đức để phục vụ chiến tranh. Sản lượng công nghiệp quân sự của Đức năm 1944 tăng gấp 5 lần so với năm 1939. Chính quyền Hítle còn thi hành chính sách phân biệt chủng tộc cực kỳ dã man, tàn bạo đối với người Do Thái, người Nga, người Ba Lan… Tính đến năm 1945, hơn 5 triệu người Do Thái (chiếm 70% số người Do Thái ở châu Âu và 40% số người Do Thái trên toàn thế giới) đã bị tàn sát. Các trại tập trung, lò thiêu người, giá treo cổ… là hình ảnh tiêu biểu cho “Trật tự mới” của phát xít Đức ở châu Âu. Trong số hơn 7 triệu người bị giam giữ trong các trại tập trung, 6 triệu người đã bị giết hại hoặc bị chết vì suy kiệt.

    Ở châu Á, quân đội Nhật tuyên bố giúp đỡ “những người anh em da vàng” đánh đổ ách thống trị của thực dân da trắng để xây dựng “Khu vực thịnh vượng chung Đại Đông Á”. Nhưng trên thực tế, quân Nhật đã thiết lập ách thống trị tàn bạo của lực lượng chiếm đóng ở Đông Á. Quân Nhật vơ vét lúa gạo đến mức cao nhất để nuôi sống guồng máy chiến tranh với đội quân khổng lồ hàng triệu người. Các công ty Nhật có mặt ở khắp mọi nơi để khai thác tài nguyên, vơ vét bóc lột thậm tệ các nước bị chiếm đóng. Nạn đói diễn ra ở nhiều nước Đông Á trong thời gian chiến tranh (ở Việt Nam, hơn 2 triệu người chết đói trong năm 1945). Đồng thời, quân đội Nhật còn lập ra các chính phủ bù nhìn bản xứ để phục vụ chính sách thống trị của mình như Chính phủ Uông Tinh Vệ ở Trung Quốc (1940), Chính phủ Trần Trọng Kim ở Việt Nam (1945), Chính phủ tự trị ở Miến Điện và Philíppin (1943)… ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa phát xít đã làm bùng nổ phong trào kháng chiến chống phát xít của nhân dân các nước bị chiếm đóng.

    Ở châu Âu:

    -Những đội du kích đầu tiên được thành lập ở Ba Lan từ năm 1939. Tháng 1 - 1942, Đảng cộng sản Ba Lan đã tổ chức lực lượng “Quân đội vũ trang nhân dân”. Lực lượng trung thành với chính phủ lưu vong cũng lập ra “Quân đội trong nước” để tổ chức các hoạt động chống phát xít Đức.

    -Tại Pháp, Đảng cộng sản và các lực lượng yêu nước đã gương con ngọn cờ kháng chiến, tổ chức các hoạt động du kích chống Đức. Tướng Đờ Gôn sang Luân Đôn tổ chức lực lượng vũ trang “Nước Pháp tự do” và tiến hành các hoạt động ở hải ngoại đấu tranh chống phát xít. Tháng 3 - 1941, các lực lượng vũ trang chống phát xít đã thống nhất lực lượng, phát triển đội ngũ để phối hợp với quân Đồng minh giải phóng nước Pháp.

    -Ở các nước châu Âu khác như Nam Tư, Hi Lạp, Anbani, Italia… phong trào chống phát xít phát triển mạnh mẽ, các đảng cộng sản đã tổ chức lực lượng vũ trang phối hợp với các tổ chức yêu nước khác, tiến hành các hoạt động du kích, kiên cường chiến đấu trong lòng địch.

    - Đặc biệt là tại các vùng bị chiếm đóng ở Liên Xô, chiến tranh du kích diễn ra trong suốt những năm chiến tranh, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Hồng quân Liên Xô trên các mặt trận.

    -Ở khu vực Đông Á, cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc là một bộ phận quan trọng trong cuộc kháng chiến chống phát xít của nhân dân thế giới. Nhân dân Trung Quốc đã bền bỉ, kiên cường chiến đấu chống trả lực lượng chủ lực của quân phiệt Nhật, góp phần tiêu hao sinh lực địch, kiềm chế trên 1 triệu quân Nhật trên đất Trung Quốc. Tại Đông Nam Á, các đảng cộng sản đã lãnh đạo phong trào kháng Nhật, tập hợp các lực lượng yêu nước trong Mặt trận dân tộc thống nhất, xây dựng lực lượng vũ trang, góp phần tiêu diệt quân phiệt Nhật.

    C. Giai đoạn thứ ba (11-1942 đến 12-1943): bước ngoặt, quân Đồng Minh chuyển sang phản công.

    1. Chiến thắng Xtalingrát và  bước ngoặt của chiến tranh .

    Sau một thời gian khẩn trương chuẩn bị về mọi mặt, Hồng quân Liên Xô quyết định chuyển sang phản công, thực hiện, chiến dịch “Sao Thiên Vương”, tiêu diệt quân chủ lực của phát xít Đức ở Xtalingrát. Ngày 19 - 11 - 1942, phương tiện quân Tây Nam và phương tiện quân Sông Đông mở cuộc tấn công như vũ bão tại phía Bắc Xtalingrát, tiến về phía Đông Nam. Hồng quân nhanh chóng phá vỡ phòng tuyến của quân địch, tạo thế tấn công gọng kìm. Các phương diện quân ở phía Nam và phía Bắc cũng đồng loạt tấn công. Hồng quân nhanh chóng khép kín vòng vây 33 vạn quân tinh nhuệ của Đức ở Xtalingrát. Cuộc chiến đấu ác liệt diễn ra suốt từ ngày 23 - 11 đến cuối tháng 12 - 1942. Đạo quân tiếp viện của Thống chế Manxtên do Hítle cử đến bị đánh bật ra khỏi Xtalingrát và tổn thất nặng nề. Từ ngày 1 - 1 - 1943, Hồng quân mở đợt tấn công mới, tiêu diệt lực lượng quân Đức trong vòng vây: 2/3 đạo quân tinh nhuệ bị tiêu diệt, 1/3 bị bắt sống, trong đó có tư lệnh Paolút và 24 viên tướng.

    Cuộc phản công kéo dài gần 3 tháng (19 - 11 - 1942 đến 2 - 2 - 1943) đã đi vào lịch sử như một trận đánh lớn và tiêu biểu về nghệ thuật quân sự cũng như ý nghĩa chiến lược của nó trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Chiến thắng Xtalingrát đã tạo nên bước ngoặt xoay chuyển tình thế của cục diện chiến tranh thế giới: phe Đồng minh chuyển sang phản công, phe phát xít không thể phục hồi lực lượng, phải chuyển từ tấn công sang phòng ngự .

     Tập tin:Bundesarchiv Bild 183-W0506-316, Russland, Kampf um Stalingrad, Siegesflagge.jpg

     Hồng quân vẫy cờ sau chiến thắng

    Sau thất bại ở Xtalingrát, nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường Xô - Đức, quân Đức mở rộng cuộc tấn công đại quy mô vào mùa hè năm, 1943. Trận đánh bắt đầu với cuộc tấn công của 50 sư đoàn Đức (trong đó có 16 sư đoàn xe tăng và cơ giới) vào khu vực “vòng cung Cuốcxcơ”, với ý đồ tiêu diệt phương diện quân chủ lực của Hồng quân ở đây. Hồng quân đã nhanh chóng bẻ gãy cuộc tấn công của địch, chuyển sang phản công, đánh tan 30 sư đoàn (trong đó có 7 sư đoàn xe tăng), loại khỏi vòng chiến 50 vạn quân Đức. Chiến thắng Cuốcxcơ đã đập tan ý đồ giành lại thế chủ động của quân Đức. Từ đây, Hồng quân Liên Xô liên tục tấn công trên một mặt trận rộng lớn từ Lêningrát đến biển Adốp, giải phóng 1/2 lãnh thổ bị chiếm đóng, trong đó có các thành phố lớn như: Kháccốp, Bengôrốt, Vôrôxilôpgrát, Kiép…

    2. Quân đồng minh phản công ở Bắc Phi , Italia và Thái Bình Dương .

        Ở Bắc Phi, ngày 23 - 10 - 1942 quân Anh bắt đầu tấn công liên quân Đức - Italia ở En Alamen, tiêu diệt và bắt sống 55 ngàn quân địch. Thắng lợi này tạo ra khả năng phản công cho quân Anh trên chiến trường Bắc Phi. Lợi dụng lúc quân Đức đang bị sa lầy ở Xtalingrát và bị thua ở En Alamen, quân Mĩ đổ bộ lên Bắc Phi ngày 8 - 11 - 1942. Quân Anh (từ phía Đông), quân Mĩ (từ phía Tây), phối hợp dồn địch chạy về Tuynidi. Trong tình thế tuyệt vọng, ngày 12 - 5 - 1943, toàn bộ liên quân Đức - Italia phải đầu hàng . Chiến sự ở Bắc Phi chấm dứt với thắng lợi của quân Đồng minh.

    Sau khi chấm dứt chiến sự ở Bắc Phi, ngày 10 - 7 - 1943, quân Đồng minh từ Bắc Phi tấn công vào Italia, mở đầu bằng cuộc đổ bộ đánh chiếm đảo Xixilia. Tinh thần chiến đấu của quân đội Italia rất bạc nhược, chỉ còn một bộ phận quân Đức rút chạy về phía Nam Italia. Xixilia hoàn toàn thất thủ. Chính quyền phát xít tan rã Mútxôlini bị tống giam. Thống chế Bađôgơliô lập chính phủ mới, ký kết đầu hàng Đồng minh ngày 8 - 9 - 1943 và tuyên chiến với Đức. Quân đội đồng minh tiến vào khu vực phía Nam Italia. Lợi dụng sự tiến quân chậm chạp của quân Đồng minh, Hítle cho quân chiếm đóng miền Bắc Italia, và giải thoát cho Mútxôlini. Được quân Đức hỗ trợ, Mútxôlini thành lập chính phủ phát xít ở miền Bắc. Italia bị chia làm hai miền: miền Bắc do quân đội Đức chiếm đóng với chính phủ bù nhìn Mútxôlini, miền Nam thuộc chính phủ Bađôgơliô do Anh - Mĩ bảo trợ. Quân Đức còn tiếp tục cầm cự ở Italia cho tới khi chiến tranh kết thúc ở châu Âu, tháng 5 - 1945.

    Ở Thái Bình Dương, từ tháng 8 - 1942 quân Mĩ bắt đầu phản công quân Nhật ở đảo Guađanacan và giành được thắng lợi vào tháng 1 - 1943. Sau chiến thắng ở Guađanacan, quân đội Mĩ đã giành được quyền chủ động, chuyển sang phản công trên toàn chiến trường Thái Bình Dương và vấn đề mở Mặt trận thứ hai ở Tây Âu

    3. Hội nghị cấp cao Têhêran (11-1943)

    Lần đầu tiên kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, từ ngày 28 - 11 đến 1 - 12 - 1943, Hội nghị Thượng đỉnh Tam cường Xô - Mĩ - Anh đã được tổ chức tại Têhêran (Iran), với sự tham gia của đích thân Xtalin, Rudơven và Sớcsin. Hội nghị đã thảo luận nhiều vấn đề quan trọng về việc phối hợp hành động chống Đức cho đến thắng lợi cuối cùng, về tương lai nước Đức sau chiến tranh, đặc biệt là vấn đề mở Mặt trận thứ hai ở Tây Âu - vấn đề quan trọng nhất của Hội nghị.


    Ngay từ tháng 7 - 1941 Liên Xô đã đưa ra đề nghị về việc mở Mặt trận thứ hai ở Tây Âu để có thể đánh bại kẻ thù nguy hiểm nhất là phát xít Đức. Tuy nhiên, Mĩ và Anh tìm mọi cách để trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ Đồng minh của mình trong vấn đề mở Mặt trận thứ hai ở Tây Âu, đồng thời không thực hiện đúng những cam kết về chi viện cho Liên Xô. Thái độ trì hoãn có tính toán của Anh, Mĩ là âm mưu làm Liên Xô suy yếu, kiệt quệ trong chiến tranh và ý đồ không muốn có một cuộc chiến thực sự với quân chủ lực Đức còn đang sung sức ở châu Âu. Dư luận tiến bộ trên thế giới, đặc biệt là ở Liên Xô và Mĩ đã lên án gay gắt chính sách hai mặt này. Sau nhiều lần trì hoãn, tại Hội nghị Têhêran, Thủ tướng Anh Sớcsin đưa ra ý đồ mở Mặt trận thứ hai bằng việc đổ bộ quân ở khu vực lòng chảo Địa Trung Hải, nhưng cả Liên Xô và Mĩ đều không tán đồng. Cuối cùng, Hội nghị đã đạt được thoả thuận về việc Anh - Mĩ sẽ mở Mặt trận thứ hai bằng cuộc đổ bộ lên đất Pháp trong tháng 5 - 1944. Những người đứng đầu ba nước Xô - Mĩ - Anh c ũng thoả thuận về sự hợp tác sau chiến tranh giữa các nước Đồng minh vì một nền hoà bình lâu dài, khẳng định quyết tâm thành lập tổ chức Liên hiệp quốc để gìn giữ hoà bình và an ninh quốc tế sau chiến tranh. Hội nghị quyết định thành lập Hội đồng tư vấn châu Âu để giải quyết vấn đề Đức sau chiến tranh, thông qua tuyên bố xác nhận chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Iran, xác nhận biên giới phía Đông và phía Tây của Ba Lan… Hội nghị Têhêran đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc củng cố, phát triển Mặt trận Đồng minh chống phát xít. Những quyết định của Hội nghị có ý nghĩa quốc tế to lớn, thúc đẩy sự hợp tác giữa ba cường quốc trong việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít. Âm mưu kí kết hoà ước riêng rẽ với các nước Mĩ, Anh để tránh khỏi phải đầu hàng các nước phát xít đã thất bại hoàn toàn.

     

    D.Giai đoạn thứ tư (12-1943 đến 8-1945): quân Đồng Minh tổng phản công tiêu diệt phát xít Đức, Italia và quân phiệt Nhật. Chiến tranh kết thúc.

    1. Liên xô tổng phản công giài phong hoàn tòan đất nước và giải phong Đông Âu.

    Từ ngày 24 - 12 - 1943, Liên Xô bắt đầu cuộc tổng tấn công đồng loạt trên các mặt trận từ Lêningrát đến Crưm:

    * Ở mặt trận phía Bắc, tháng 1 - 1944, Hồng quân mở cuộc tấn công giải phóng Lêningrát, thành phố anh hùng đã ngoan cường chiến đấu suốt 900 ngày đêm với quân Đức trong những điều kiện vô cùng gian khổ, khắc nghiệt. Sau chiến thắng Lêningrát, Hồng quân tiến vào giải phóng các nước vùng Bantích, đuổi quân Phần Lan ra khỏi biên giới Xô - Phần.

    *Ở  mặt trận Ucraina, Hồng quân mở 10 đợt tấn công tiêu diệt quân Đức trong năm 1944. Cuộc chiến đấu diễn ra hết sức ác liệt, vì phần lớn lực lượng quân Đức tập trung ở đây. Sau khi đánh tan 66 sư đoàn Đức, Hồng quân giải phóng hoàn toàn Ucraina. Từ tháng 3 đến tháng 5 - 1944, quân đội Xô viết giải phóng Ôđétxa và Crưm.

    *  Chiến dịch giải phóng Bêlarút bắt đầu tháng 6 - 1944 đã đánh tan đạo quân Trung tâm mạnh nhất của Đức, tiêu diệt 77 sư đoàn địch. Quân đội Liên Xô tiến vào giải phóng ba nước vùng Ban tích (tháng 9 và 10 - 1944), hoàn thành việc giải phóng Liên Xô.

    *Sau khi quét sạch quân Đức ra khỏi lãnh thổ Liên Xô, Hồng quân tiến vào giải phóng các nước Trung, Đông Âu. Hồng quân tiến vào Ba Lan (7 - 1944), giải phóng Rumani (8 - 1944), Bungari (9 - 1944), Xlôvakia (9 - 1944), phối hợp với quân của Thống chế Titô giải phóng Nam Tư (10 - 1944), giải phóng phần lớn Hunggari và giao tranh quyết liệt với địch ở thủ đô Buđapét. Cuộc tổng tấn công của quân đội Liên Xô đã tiêu diệt 138 sư đoàn địch, gồm khoảng 1,6 triệu quân, 6.700 xe tăng, 28.000 đại bác và súng cối, 12.000 máy bay, giải phóng hoàn toàn lãnh thổ Liên Xô và các nước Trung, Đông Âu. Hồng quân tiến quân như vũ bão đến biên giới nước Đức.

     

    2. Anh – Mỹ mở mặt trận thứ hai ở Tây Âu .

    Sau Hội nghị Têhêran, Mĩ - Anh quyết định cử tướng Mĩ Aixenhao làm Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh ở châu Âu của Đồng minh để thực thi kế hoạch mở mặt trận thứ hai. Sau một thời gian chuẩn bị và nhiều lần trì hoãn, cuối cùng Mặt trận thứ hai được mở bằng cuộc đổ bộ tại Noócmăngđi (Bắc Pháp) ngày 6 - 6 - 1944. Cuộc đổ bộ lớn nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới với 3,5 triệu quân diễn ra thành công và hoàn toàn bất ngờ khiến quân Đức không kịp trở tay. Hơn 4.000 hạm tàu, 13.000 máy bay yểm trợ cho quân Đồng minh đổ bộ tại khu vực dài 80km, rộng từ 13 đến 19 km. Từ Noócmăngđi, quân Đồng minh chia làm hai mũi, mũi phía Bắc đánh vào nước Đức, mũi phía Tây - Nam đánh vào nước Pháp. Với việc mở Mặt trận thứ hai, lần đầu tiên kể từ ngày bắt đầu chiến tranh, nước Đức phát xít bị lâm vào tình thế phải đối phó cùng một lúc với hai mặt trận Đông - Tây (phía Đông chống Liên Xô, phía Tây chống Anh - Mĩ).

     

    Quân đổ bộ tiến vào giải phóng nước Pháp. Phong trào khởi nghĩa vũ trang do Đảng Cộng sản Pháp lãnh đạo lan rộng khắp trong nước. Quần chúng nhân dân đã giải phóng nhiều vùng rộng lớn trước khi quân Đồng minh đến. Ngày 19 - 8 - 1944, khởi nghĩa vũ trang bùng nổ ở Pari, nhân dân làm chủ thành phố. Ngày 25 - 8, quân đội Đồng minh tiến vào Pari. Chính phủ lâm thời của nước Pháp do Đờ Gôn đứng đầu, được thành lập. Sau khi nước Pháp được giải phóng, quân Đồng minh tiếp tục giải phóng các nước Tây Âu khác như Bỉ, Hà Lan, Lucxembua, Italia và chuẩn bị tấn công nước Đức phát xít. Quân đội Mĩ - Anh gặp Hồng quân Liên Xô tại Toócgâu trên bờ sông Enbơ ngày 26 - 4 - 1945.

     

    3. Hội nghị thượng đỉnh Ianta và Pốtxđam

    * Hội nghị thượng đỉnh Ianta :

    Trong bối cảnh sự thất bại của chủ nghĩa phát xít đang đến gần, Hội nghị thượng đỉnh Ianta (Crưm) được tổ chức với sự tham dự của những người đứng đầu ba nước Liên Xô, Anh, Mỹ là Xtalin, Sớcsin và Rudơven, từ ngày 4 đến 12 - 2 - 1945.

    Hội nghị đã đạt được những thoả thuận quan trọng về vấn đề phối hợp hành động để chống Trục phát xít trong giai đoạn kết thúc chiến tranh, về việc tiêu diệt hoàn toàn chủ nghĩa phát xít Đức và xây dựng những bảo đảm thật sự để nước Đức không còn khả năng gây chiến tranh một lần nữa. Về các vấn đề có liên quan đến châu Âu, Hội nghị thông qua “Tuyên ngôn giải phóng châu Âu” nêu rõ những chính sách và hành động chung nhằm giải quyết những vấn đề chính trị - kinh tế của châu Âu sau chiến tranh phù hơp với những nguyên tắc dân chủ.

    Về vấn đề Viễn Đông, các nước đã bí mật thoả thuận về việc Liên Xô sẽ tham gia vào cuộc chiến tranh Thái Bình Dương sau hai đến ba tháng sau khi Đức đầu hàng và chiến tranh kết thúc ở châu Âu.

    Hội nghị còn khẳng định về việc thành lập tổ chức Liên Hiệp Quốc với nguyên tắc cơ bản là sự nhất trì hoàn toàn giữa năm nước lớn: Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc sau chiến tranh. Cuối cùng, cũng tại hội nghị này, các nước lớn đã đạt được thoả thuận về việc phân chia phạm vi ảnh hưởng, đặt cơ sở cho việc hình thành một trật tự thế giới mới sau khi chiến tranh kết thúc.

     

    *Hội nghị Thượng đỉnh tam cường được tiến hành tại Pốtxđam (Đức):

    Sau khi phát xít Đức đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, chiến tranh kết thúc ở châu Âu, Hội nghị Thượng đỉnh tam cường được tiến hành tại Pốtxđam (Đức) từ ngày 17 - 7 đến 2 - 8 - 1945.

    Ngay trước thềm Hội nghị, ngày 16 - 7, Mỹ đã thử thành công bom nguyên tử và mong muốn qua sự kiện này gây áp lực với Liên Xô.

    Hội nghị tập trung vào giải quyết vấn đề Đức trên cơ sở những thoả thuận của Hội nghị Ianta, nhằm tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa phát xít Đức, thực hiện giải giáp quân đội, biến nước Đức thành một nước dân chủ, hoà bình và không thể một lần nữa trở thành mối đe doạ đối với an ninh toàn thế giới. Hội nghị quyết định phải thủ tiêu tất cả những tổ chức quân sự, nửa quân sự, cũng như các ngành công nghiệp quân sự và xoá bỏ các tập đoàn tư bản lũng đoạn Đức - lực lượng chủ đạo của chủ nghĩa quân phiệt Đức. Đồng thời nước Đức phải trả những khoản bồi thường chiến tranh cho các nước Đồng minh.

    Hội nghị đã thành lập “Hội đồng ngoại trưởng” gồm đại biểu năm nước Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp, Tru ng Quốc có nhiệm vụ chuẩn bị những hoà ước ký với các nước bại trận trong phe Đức (Italia, Rumani, Hunggari, Phần Lan) và Đức.

    Hội nghị đã xác định đường biên giới mới giữa Ba Lan và Đức theo tuyến Ôđe - Nây dơ (Oder - Neisse), khu vực Kônibớc (Konigsberg) chuyển giao cho Liên Xô.

    Đối với việc tiêu diệt phát xít Nhật ở Viễn Đông, Liên Xô tiếp tục bí mật cam kết sẽ tham gia chiến tranh chống Nhật. Những quyết định của ba nước Xô - Mĩ - Anh trong Hội nghị Ianta và Pốtxđam chẳng những có ảnh hưởng quyết định đối với việc giải quyết vấn đề Đức, vấn đề Nhật và hàng loạt các vấn đề khác, mà còn đặt cơ sở cho một trật tự thế giới mới sau chiến tranh - trật tự hai cực Ianta.

    4. Phát xít Đức bị tiêu diệt . Quân phiệt Nhật đầu hàng . Chiến tranh kết thúc .

    Mùa xuân năm 1945, nước Đức phát xít đã bị kẹp giữa hai gọng kìm: phía Đông là 5 đạo quân của Liên Xô, phía Tây là 3 đạo quân của Mĩ - Anh và các nước Đồng minh. Trong bước đường cùng, Hítle dốc toàn lực quyết tâm phòng thủ Béclin bằng mọi giá.

     

    Ngày 16 - 4 - 1945, Liên Xô bắt đầu tấn công vào Béclin, sào huyệt cuối cùng của nước Đức Quốc xã. Trên đường vào Béclin, Hítle bố trí hơn 90 sư đoàn (trong đó có 14 sư đoàn xe tăng và cơ giới) gồm trên 1 triệu quân, 10.000 pháo và súng cối, 1.500 xe tăng và pháo tự hành, 3.000 máy bay chiến đấu, cùng với đội dân quân phòng vệ 20 vạn người. Hồng quân Liên Xô huy động lực lượng của hai phương diện quân gồm 2,5 triệu người, 6.250 xe tăng, 7.500 máy bay, 42.000 đại bác và pháo, hoàn toàn chiếm ưu thế để tiêu diệt kẻ thù. Từ ngày 16 - 4, cuộc chiến đấu quyết liệt diễn ra ở ngoại ô Béclin. Bắt đầu từ ngày 23 - 4, cuộc chiến đấu diễn ra trong thành phố. Vòng vây của quân đội Liên Xô ngày càng khép chặt. Ngày 30 - 4, Hồng quân chiếm được nhà Quốc hội Đức, Hítle tự sát dưới hầm chỉ huy. Ngày 2 - 5, Hồng quân chiếm được toàn bộ thủ đô Béclin, quân Đức (còn lại khoảng hơn 7 vạn người) đầu hàng vô điều kiện. Ngày 9 - 5 - 1945, Tổng tư lệnh quân đội Đức, thống chế Câyten đã kí vào văn bản đầu hàng. Cuộc chiến tranh khốc liệt ở châu Âu đã kết thúc với thất bại của phát xít Đức.

     

     

    Ở mặt trận châu Á - Thái Bình Dương, sau thắng lợi ở các đảo Thái Bình Dương, chiếm lại đảo Salômông (tháng 1 đến tháng 11 - 1943), quần đảo Ginbe (11 - 1943), quần đảo Mácsan (2 - 1944), quân đảo Marian (6 - 1944), quân đội Mĩ đã chiếm lại Tân Ghinê (7 - 1944). Tại Đông Nam Á, cuộc chiến giành lại quần đảo Philippin diễn ra rất quyết liệt. Tháng 10 - 1944 quân Mĩ đổ bộ vào đảo Lâytơ (miền Trung Philíppin) đánh bại hải quân Nhật và chiếm lại hòn đảo này vào tháng 12 - 1944. Tháng 1 - 1945, sau những trận chiến đấu ác liệt, Mĩ giành được đảo Luđông. Đến tháng 3 - 1945, quân Mĩ chiếm lại toàn bộ Philíppin. ở Miến Điện, liên quân Anh - ấn và Mĩ - Trung Quốc bắt đầu triển khai những đợt tấn công từ tháng 10 - 1944. Cuối năm 1944, liên quân giành được miền Bắc Miến Điện. Đầu năm 1945, liên quân tiến vào miền Nam, giải phóng thủ đô Rănggun (5 - 1945).


    Nhắn tin cho tác giả
    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 04:53 26/08/2010
    Số lượt xem: 5871
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến