Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    Anh_Van_Giao_Tiep_Cho_Nguoi_Hoan_Toan_Mat_Goc___Ruby_Thao_Tran.flv NoiNayCoAnhSonTungMTP4772041.mp3 Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf

    Thành viên trực tuyến

    48 khách và 1 thành viên
  • Trần Khanh
  • Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Nguyến Ái Quốc - Hồ Chí Minh >

    Chủ tịch Hồ Chí Minh-TĂNG CƯỜNG VÀ MỞ RỘNG ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ.....NHỮNG NGÀY CUỐI ĐỜI VÀ BẢN DI CHÚC LỊCH SỬ

    IV- TĂNG CƯỜNG VÀ MỞ RỘNG ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ, TRANH THỦ SỰ ỦNG HỘ VÀ GIÚP ĐỠ CỦA NHÂN DÂN THẾ GIỚI ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CHÍNH NGHĨA CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM

     

     

    Chủ trương của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đối với tất cả các nước trên thế giới là mong muốn duy trì tình hữu nghị và thành thật hợp tác trên cơ sở bình đẳng và tương trợ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố chính sách ngoại giao của Nhà nước ta là:

    “Sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi và chung sống hoà bình” (68).

    Sự hợp tác đó sẽ có lợi cho cả đôi bên và có lợi chung cho công cuộc hoà bình toàn thế giới. Trên tinh thần chấp hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, ngày 12-8-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại biểu các nước Ấn Độ, Ba Lan và Canađa, trong ủy ban giám sát và kiểm soát quốc tế thi hành Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương. Từ năm 1955 đến 1957, hoạt động đối ngoại của Nhà nước ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung vào các hướng như sau: Đấu tranh đòi đối phương phải triệt để thi hành Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương; tăng cường tình hữu nghị với các nước láng giềng và các nước xã hội chủ nghĩa anh em; góp phần củng cố hoà bình ở châu Á và trên toàn thế giới. Đối với Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu Mỹ phải tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnhHiệp định Giơnevơ. Đối với nước Pháp, muốn lập những mối quan hệ kinh tế và văn hoá trên cơ sở bình đẳng, hai bên đều có lợi, cộng tác thẳng thắn và tin cậy lẫn nhau. Đối với các nước trong khu vực, đặc biệt hai nước Lào và Campuchia, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh tới ý nghĩa quan trọng của tình đoàn kết quốc tế giữa nhân dân ba nước Đông Dương trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng đất nước, phù hợp với điều kiện của mỗi nước.

    Để tăng cường và mở rộng các hoạt động đối ngoại nhằm tranh thủ sự ủng hộ và viện trợ của bạn bè quốc tế với công cuộc khôi phục, cải tạo kinh tế, văn hoá ở miền Bắc, với sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của đồng bào miền Nam, thống nhất nước nhà, ngày 22-6-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam lên đường đi thăm các nước Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ; tháng 7-1957, thăm 9 nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa: Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Tiệp Khắc, Ba Lan, Cộng hoà dân chủ Đức, Hunggari, Nam Tư, Anbani, Bungari và Rumani; tháng 2-1958, thăm các nước Mianma, Ấn Độ và Inđônêxia. Tháng 11-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam sang dự Lễ kỷ niệm lần thứ 43 Cách mạng Tháng Mười Nga. Sau đó dự và ký‎ Tuyên bố chung tại Hội nghị đại biểu 81 Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế họp ở Mátxcơva. Những hoạt động ngoại giao của Người, đặc biệt trong việc góp phần giảm bớt sự căng thẳng, bất hoà giữa Liên Xô và Trung Quốc, đã làm tăng cường tình đoàn kết quốc tế, sự thống nhất giữa các Đảng Cộng sản và công nhân các nước anh em.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đón tiếp một số nguyên thủ của các nước sang thăm Việt Nam: Chủ tịch K. E. Vôrôsilốp – Liên Xô (5-1957), Tổng thống Praxat – Ấn Độ (2-1959), Chủ tịch Hátghi Lêsi – Anbani (6-1960), Tổng thống Xêcu Turê – Ghinê (9-1960)… Người tiếp các đoàn đại biểu quốc tế sang thăm và làm việc tại Việt Nam: Đoàn đại biểu Thanh niên Dân chủ thế giới (23-10-1956), Đoàn Thương mại Ai Cập (1-1-1958), Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Pháp (8-1-1958), Đoàn đại biểu Công đoàn Thái Lan (11-1-1958), Đoàn đại biểu Ghinê và Kênia (22-3-1959), Đoàn đại biểu phụ nữ Tuynidi và Angiêri (8-1959). Người đã tiếp bà Idaben Blum, Ủy viên Chủ tịch đoàn Hội đồng hoà bình thế giới (22-9-1959); Đoàn đại biểu Thanh niên Camơrun (16-1-1960), v.v.. Người đã trả lời phỏng vấn một số nhà báo nước ngoài: các ông L. Hanxen chủ bút Hãng U.P. của Mỹ ở khu vực châu Á (26-12-1955), nhà báo Nhật Sira Isi Bôn về tình hình Việt Nam, về quan hệ của Việt Nam với các nước trên thế giới (5-10-1959)… Người tiếp ông Uyliam Uôbi – Nghị sĩ Quốc hội Công đảng Anh; tiếp Đoàn đại biểu Viện Hàn lâm khoa học Ba Lan và Tiệp Khắc sang Việt Nam ký‎ kế hoạch hợp tác khoa học giữa Việt Nam – Ba Lan và Việt Nam – Tiệp Khắc.

    Người gửi thư cho các cá nhân, tập thể, các tổ chức quốc tế và các nước: Điện chúc mừng nhân dịp kỷ niệm ngày tuyên bố độc lập của Liên bang Miến Điện; Điện gửi Ủy ban liên hiệp sinh viên các nước Á – Phi; Điện mừng Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô; Điện gửi Tổng thống Pháp Rơnê Côty, yêu cầu huỷ bỏ án tử hình chị Giamila, người nữ thanh niên yêu nước Angiêri; Điện mừng nước Cộng hoà Ghinê thành lập; Điện gửi Hội nghị chống việc Chính phủ Pháp định thử bom nguyên tử ở Xahara; Điện mừng nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Pháp; Đoàn đại biểu Liên hiệp Công đoàn thế giới và các tổ chức công đoàn các nước xã hội chủ nghĩa đến Việt Nam dự Đại hội Công đoàn lần thứ II của Việt Nam, Đoàn đại biểu Vương quốc Lào, Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Angiêri… Người gửi thư cho thiếu nhi Trung Quốc, cảm ơn thanh thiếu nhi và nhân dân Trung Quốc đã ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân và thiếu nhi Việt Nam. Người gửi thư cho hai ông Bengiamin Xpớc và Xtiuớt Hưugơ, cảm ơn lực lượng dân chủ Mỹ đã ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Người tin tưởng vào ý chí chiến đấu và niềm tin thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mặc dù phải chịu nhiều tổn thất, hy sinh.

    Ngày 23-10-1963, Người đọc lời chào mừng các đoàn đại biểu Công đoàn quốc tế sang dự Hội nghị của ủy ban công đoàn quốc tế đoàn kết với lao động và nhân dân miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hội nghị đã thông qua những nghị quyết thiết thực để ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân miền Nam Việt Nam cả về tinh thần và vật chất. Tại Hội nghị quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống Mỹ và bảo vệ hoà bình (từ ngày 25 đến 29-11-1964), Người cho rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã được nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ, vì:

    “Mỗi thắng lợi của nhân dân thế giới là một thắng lợi của nhân dân Việt Nam. Và mỗi thắng lợi của nhân dân Việt Nam cũng là một thắng lợi của nhân dân thế giới” (69).

    Đối với Liên Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh hoan nghênh những chủ trương tích cực của Liên Xô trong việc ủng hộ và viện trợ cho Việt Nam chống Mỹ. Người chỉ đạo việc mời và đón tiếp thân tình nhiều đoàn đại biểu cao cấp của Đảng và Nhà nước Liên Xô sang thăm nước ta. Do những đóng góp của Người vào việc củng cố và tăng cường tình hữu nghị vĩ đại với Liên Xô, nhân dịp kỷ niệm 50 năm Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười, Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô quyết định tặng Người Huân chương Lênin, huân chương cao quý nhất của Liên Xô. Người đã gửi điện cảm ơn và xin tạm hoãn việc nhận phần thưởng cực kỳ cao quý ấy:

    “Đến ngày nhân dân chúng tôi đánh đuổi được bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam, tôi sẽ đại biểu cho toàn thể đồng bào tôi, trân trọng và vui mừng lãnh lấy Huân chương mang tên Lênin vĩ đại” (70).

    Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Mười Nga (1917-1967), Người viết bài Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc, đăng trên báo Sự thật (Pravđa), Liên Xô, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân Việt Nam với Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, sự giúp đỡ to lớn của nhân dân Liên Xô trong cuộc đấu tranh vì độc lập và thống nhất Tổ quốc của nhân dân ta.

    Về quan hệ với Trung Quốc, Người đã nhiều lần sang thăm và nghỉ ngơi tại Trung Quốc để cảm ơn về sự giúp đỡ to lớn và củng cố hơn nữa mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết Việt – Trung. Nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc (1-7-1921–1-7-1961), Người viết bài: Cách mạng Trung Quốc và cách mạng Việt Nam, nêu lên mối quan hệ gắn bó giữa cách mạng và nhân dân hai nước Việt – Trung.

    Người ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, ủng hộ các cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc và lên án các hành động can thiệp, xâm lược của chủ nghĩa đế quốc: ủng hộ đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân các nước Arập chống lại cuộc xâm lược của Ixraen; ủng hộ cuộc đấu tranh vì độc lập của nhân dân Cônggô và nhân dân Đôminích; ủng hộ phong trào đoàn kết của nhân dân Á – Phi chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới.

    Cùng với những hoạt động trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo nhiều hoạt động của Đảng và Nhà nước ta nhằm xây dựng mối quan hệ rộng rãi với nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nhân sĩ, trí thức, chính khách, nhà văn hoá có tên tuổi để hình thành một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân ta chống đế quốc Mỹ xâm lược.

    Nhân dịp năm mới 1966, Người gửi lời chúc đầu năm đến nhân dân Mỹ, cảm ơn nhân dân Mỹ đã đấu tranh đòi Chính phủ Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam và nêu rõ: Nhân dân Việt Nam rất quý‎ trọng tình hữu nghị với nhân dân Mỹ vĩ đại đang tiếp tục những truyền thống của Hoa Thịnh Đốn và Lincôn đấu tranh cho độc lập dân tộc và dân chủ.

    Ngày 24-1-1966, trong thư gửi các vị đứng đầu các nước xã hội chủ nghĩa, các nước liên quan tới Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam, các nước dân tộc chủ nghĩa và nhiều nước khác quan tâm đến tình hình Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về tình hình nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra ở miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia. Người cực lực phản đối những tội ác man rợ của đế quốc Mỹ gây ra ở miền Nam và khẩn thiết yêu cầu các chính phủ và nhân dân yêu chuộng hoà bình toàn thế giới hãy kiên quyết chặn tay bọn tội phạm chiến tranh Mỹ. Một lần nữa, Người khẳng định: Ngày nào còn đội quân xâm lược Mỹ trên đất nước chúng tôi, thì nhân dân chúng tôi kiên quyết chiến đấu chống lại chúng.

    Những hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần khẳng định lập trường và thiện chí của Đảng, Nhà nước ta trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam và cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Đồng thời cũng khẳng định niềm tin, ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ của nhân dân Việt Nam vì mục tiêu: hoà bình, thống nhất, độc lập dân tộc, dân chủ và góp phần vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới, góp phần làm tăng uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Những hoạt động đó đã góp phần nêu cao thiện chí hoà bình, chính sách láng giềng thân thiện của Việt Nam, nâng cao địa vị và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời góp phần tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước trên thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta, làm cho nhân dân thế giới hiểu hơn về những đau thương, mất mát mà cuộc chiến tranh đế quốc Mỹ đã gây ra ở miền Nam Việt Nam. Sự đoàn kết, đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới với nhân dân Việt Nam đã góp phần vào thắng lợi to lớn của nhân dân miền Nam Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống xâm lược. Thay mặt nhân dân Việt Nam và chính phủ Việt Nam, Người gửi lời cảm ơn sâu sắc đến nhân dân và chính phủ các nước anh em.

    Trong 15 năm đứng đầu sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng sáng suốt đề ra đường lối đúng cho cách mạng Việt Nam, cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ cách mạng: Đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam và chiến tranh phá hoại của chúng ở miền Bắc là một cuộc đụng đầu lịch sử. Trong cuộc chiến đấu gay go và ác liệt ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xử lý tài tình, sáng tạo mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược của hai miền; mối quan hệ giữa dân tộc và thời đại. Người đã chú trọng những nhân tố đảm bảo thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ ấy: Xây dựng Đảng, Nhà nước vững mạnh, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, động viên nhân dân ta thi đua yêu nước, đồng thời tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè khắp năm châuđưa cuộc đấu tranh của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, nâng địa vị và uy tín của dân tộc ta lên một tầm cao mới. Dù kẻ địch còn rất ngoan cố, dù nhân dân ta còn phải vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng nhân dân ta nhất định sẽ thắng lợi hoàn toàn.

    V- NHỮNG NGÀY CUỐI ĐỜI VÀ BẢN DI CHÚC LỊCH SỬ

    Trong những năm cuối đời, tuy tuổi cao, sức khoẻ có giảm, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn rất sáng suốt, vẫn cố gắng làm việc, vẫn cùng Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo nhân dân ta đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng sang năm 1969, sức khoẻ của Người sút kém nhiều, nhưng Người vẫn tranh thủ quỹ thời gian đang ít dần đi để làm việc, gặp gỡ, đi thăm cán bộ, nhân dân và chiến sĩ.

    Mừng Xuân 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc mừng đồng bào và chiến sĩ cả nước. Thư chúc mừng năm mới của Bác đã mang lại cho nhân dân ta niềm tin tất thắng vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước:

    “Năm qua thắng lợi vẻ vang,

    Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.

    Vì độc lập, vì tự do,

    Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.

    Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,

    Bắc – Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!” (71).

    Đêm 30 Tết năm 1969, tại Phủ Chủ tịch, Người cùng các đồng chí phục vụ và bảo vệ vui văn nghệ. Nhân dịp năm mới 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ các cháu thiếu nhi dũng sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc; tiếp các gia đình có công với cách mạng; thăm và chúc Tết đơn vị bộ đội Phòng không không quân và trồng cây đa ở đồi Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây, cây đa cuối cùng Người để lại cho đời sau.

    Ngày 27-4-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bỏ phiếu bầu cử hội đồng nhân dân khu phố Ba Đình, Hà Nội. Người gặp đại biểu các đơn vị anh hùng, các đơn vị quyết thắng và chiến sĩ thi đua Khu IV; tiếp các anh hùng và dũng sĩ miền Nam. Những ngày tháng 5 lịch sử, Người gặp gỡ các cán bộ cao cấp toàn quân.

    Ngày 22-5-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng bàn về tình hình và nhiệm vụ mới.

    Ngày 19-5-1969, Người gửi thư cho các cháu thiếu niên hợp tác xã Măng non thôn Phú Mẫn, xã Hàm Sơn, huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc, khen ngợi thành tích chăm sóc trâu bò, giúp đỡ thiết thực hợp tác xã. Nhân ngày Quốc tế thiếu nhi, tại Phủ Chủ tịch, Người gặp gỡ các cháu thiếu nhi và xem các cháu học sinh lớp 1 Nhạc viện Hà Nội biểu diễn nghệ thuật. Bài viết Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng, đăng báo Nhân dân, ngày 1-6-1969, nhắc nhở trách nhiệm của toàn xã hội trong việc chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng, những thế hệ tương lai của nước nhà là bài báo cuối cùng Bác viết cho thiếu nhi trước lúc đi xa. Ngày 12-6-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng Phái đoàn đại diện Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hà Nội nhân dịp thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

    Giữa lúc nhân dân ta ở cả hai miền Nam – Bắc đang giành được những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội thì Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu lâm bệnh. Tháng 8-1969, sức khoẻ của Bác đã giảm sút nhiều. Chiều ngày 12-8, sau khi đến thăm Phái đoàn ta từ Hội nghị Pari về, trên đường về Người bị cảm lạnh. Từ ngày 18-8, theo đề nghị của bác sĩ, Người không làm việc ở nhà sàn nữa mà chuyển xuống căn nhà nhỏ, xây năm 1967, phía sau nhà sàn. Hằng ngày Người vẫn theo dõi tin tức và báo chí đều đặn. Trưa ngày 25-8, Người nghe diễn ca về Điều lệ hợp tác xã nông nghiệp qua Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam. Cùng ngày, Người tiếp vợ chồng Đại tướng Võ Nguyên Giáp tới thăm.

    Từ lúc Người lâm bệnh, Trung ương Đảng đã tập trung mọi khả năng và phương tiện để săn sóc sức khoẻ của Người. Một tập thể giáo sư và bác sĩ y khoa giỏi ngày đêm túc trực bên giường bệnh để săn sóc, chạy chữa cho Người. Nhưng do tuổi cao bệnh nặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã qua đời lúc 9h 47 phút, ngày 2-9-1969, tại Hà Nội, thọ 79 tuổi.

    Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta bản Di chúc mà Người bắt đầu viết ngày 10-5-1965, khi còn rất minh mẫn. Vào dịp sinh nhật các năm 1966, 1967, 1968 và 1969, Người đều dành thời gian để xem lại, sửa chữa và bổ sung vào bản Di chúc.

    Năm 1966, Người bổ sung thêm một câu vào phần nói về Đảng: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Năm 1967, Người xem lại, nhưng không bổ sung gì. Năm 1968, Người bổ sung thêm 6 trang viết tay, gồm một số đoạn nói Về việc riêng, về một số công việc cần làm sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi.

    Ngày 10-5-1969, Người xem và viết lại toàn bộ phần mở đầu Di chúc, gồm một trang viết tay. Bản Di chúc thiêng liêng được hoàn tất và đi vào lịch sử từ đây.

    Di chúc của Bác là những lời căn dặn tâm huyết cuối cùng đối với Đảng ta và nhân dân ta. Mở đầu bản Di chúc Bác viết:

    “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

    Đó là một điều chắc chắn”.

    Sau đó là những lời căn dặn của Người đối với Đảng:

    “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân“.

    Với đoàn viên và thanh niên:

    “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

    Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

    Về phong trào cộng sản thế giới, Người mong rằng:

    “Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình”.

    Di chúc là một văn kiện lịch sử vô giá, kết tinh trong đó cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một vĩ nhân hiếm có đã suốt đời phấn đấu hy sinh vì Tổ quốc và nhân loại.

    Di chúc còn phản ánh một tâm hồn, đạo đức cao cả và tình thương yêu bao la của Người đối với nhân dân ta và bạn bè quốc tế, của một con người mà:

    “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

    Và điều mong muốn cuối cùng của Người là:

    “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và gópphần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” (72).

    Ngày 9-9-1969, tại Hà Nội, Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã diễn ra rất trọng thể. Đồng chí Lê Duẩn thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng đọcĐiếu văn. Điếu văn đã khái quát toàn bộ sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh hơn 60 năm, từ buổi thiếu niên cho đến phút cuối cùng, Người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới.

    Dù đã đi xa, nhưng tư tưởng, đường lối chỉ đạo của Người cùng với tình thương yêu bao la, sự quan tâm của Người đã luôn luôn là nguồn ánh sáng dẫn đường, cổ vũ, động viên nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đúng như Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định:

    “Hồ Chủ tịch đã qua đời! Nhưng Người để lại cho chúng ta một di sản vô cùng quý báu. Đó là thời đại Hồ Chí Minh, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc. Đó là kỷ nguyên độc lập, tự do của Tổ quốc, kỷ nguyên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Toàn thể dân tộc Việt Nam ta mãi mãi ghi lòng tạc dạ công ơn trời biển của Người… Hồ Chủ tịch qua đời! Nhưng Người luôn dẫn dắt chúng ta. Chúng ta vẫn cảm thấy có Người luôn luôn bên cạnh. Bởi vì chúng ta vẫn đi theo con đường của Người. Bởi vì Người vẫn sống mãi với non sông đất nước, tên tuổi và hình ảnh của Người ngày càng khắc sâu trong trái tim, khối óc của mỗi chúng ta”.















    Nguyên bản di chúc Hồ chí Minh


    Nhắn tin cho tác giả
    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 11:24 24/05/2010
    Số lượt xem: 1717
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến