Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    Anh_Van_Giao_Tiep_Cho_Nguoi_Hoan_Toan_Mat_Goc___Ruby_Thao_Tran.flv NoiNayCoAnhSonTungMTP4772041.mp3 Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf Bai_ca_nguoi_giao_vien_nhan_dan.swf

    Thành viên trực tuyến

    21 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Nguyến Ái Quốc - Hồ Chí Minh >

    Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo sự nghiệp xây dựng miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam.....(1954 -69)-P 1

    I- LÃNH ĐẠO CÔNG CUỘC KHÔI PHỤC VÀ CẢI TẠO MIỀN BẮC, ĐẤU TRANH ĐÒI THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ VÀ CHUYỂN HƯỚNG CUỘC ĐẤU TRANH YÊU NƯỚC CỦA ĐỒNG BÀO MIỀN NAM (1954 -1960)

    Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Hoà bình được lập lại ở Đông Dương, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng. Miền Nam, đế quốc Mỹ hất cẳng thực dân Pháp, biến nửa nước ta thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, chuẩn bị gây lại chiến tranh tiến công nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và các nước xã hội chủ nghĩa. Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng là kẻ thù chính nguy hiểm nhất và hung ác nhất của toàn dân ta.

    Trước tình hình mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng nêu lên hai nhiệm vụ chiến lược phải đồng thời tiến hành: xây dựng miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Cả hai nhiệm vụ ấy đều nhằm mục tiêu chung là củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, thiết thực tăng cường hệ thống xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hoà bình ở Đông Nam châu Á và thế giới.

    Trong niềm vui miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng chuẩn bị trở về Thủ đô. Ngày 19-9-1954, Người về thăm Đền Hùng, gặp gỡ và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên phong chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô. Người căn dặn:

    “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

    Ngày 14-10-1954, Người về tới Hà Nội. Mặc dù bận nhiều công việc đối nội, đối ngoại, Người vẫn dành thời gian tiếp đón và đi thăm các tầng lớp nhân dân, các đơn vị bộ đội, đặc biệt là đồng bào và chiến sĩ miền Nam vừa mới tập kết ra Bắc. Ngày 31-12-1954, Người dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ đến đặt vòng hoa tại Đài liệt sĩ Hà Nội. Kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của các liệt sĩ, Người nói:

    “Các liệt sĩ đã hy sinh, nhưng công trạng to lớn của các liệt sĩ đã ghi sâu vào lòng dạ của toàn dân và non sông đất nước…

    Máu nóng của các liệt sĩ đã nhuộm lá Quốc kỳ vẻ vang càng thêm thắm đỏ. Tiếng thơm của các liệt sĩ sẽ muôn đời lưu truyền với sử xanh” (1).

           Sáng ngày 1-1-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự lễ của 25 vạn đồng bào Hà Nội tại Quảng trường Ba Đình, chào mừng Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ trở về Thủ đô. Trong diễn văn đọc tại cuộc míttinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Nam Bắc là một nhà, là anh em ruột thịt, quyết không thể chia cắt được. Người nêu những nhiệm vụ trước mắt của nhân dân ta là kiên quyết thi hành hiệp định đình chiến, khôi phục kinh tế, củng cố quốc phòng, tiếp tục cải cách ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng…“nhằm củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước” (2). Về đối ngoại, Người nêu lên chính sách của Đảng và Nhà nước ta là tán thành 5 nguyên tắc chung sống hoà bình, lấy đó làm cơ sở để xây dựng và phát triển mối quan hệ với các nước láng giềng Lào, Miên và các nước Đông Nam Á khác. Với nước Pháp, cố gắng lập lại mối quan hệ kinh tế và văn hoá trên nguyên tắc bình đẳng, hai bên đều có lợi, đoàn kết với nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng tập trung lãnh đạo củng cố miền Bắc về mọi mặt, vì “Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ lực lượng đấu tranh của toàn dân ta” (3).

          Trong việc khôi phục kinh tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh trước hết phải khôi phục và nâng cao sản xuất nông nghiệp, để:

    “Làm cho đồng bào nông dân ấm no, để cung cấp cho quân đội, để đảm bảo tiếp tế cho các thành thị, để đẩy mạnh việc khôi phục kinh tế nước nhà” (4).

          Do hậu quả nặng nề của chiến tranh và thiên tai, từ cuối năm 1954 đến giữa năm 1955, nạn đói liên tiếp xảy ra ở nhiều nơi trên miền Bắc. Tại Hội nghị sản xuất cứu đói (13-6-1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “Dân dĩ thực vi thiên”, nghĩa là dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời.

         “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi” (5).

         Người đã phát động phong trào thi đua sản xuất và tiết kiệm mùa xuân, kêu gọi cấy lúa xuân, trồng các loại hoa màu ngắn ngày để cứu đói.

          Để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, thì phải tiếp tục thực hiện “người cày có ruộng”, vì vậy Đảng và Chính phủ đã quyết định tiến hành cải cách ruộng đất đợt 5, đợt cuối cùng của cuộc đấu tranh xoá bỏ giai cấp phong kiến ở miền Bắc. Sau gần nửa năm tiến hành khẩn trương và gian khổ, cải cách ruộng đất đợt 5 đã căn bản hoàn thành ở đồng bằng, trung du và 280 xã miền núi.

         Thắng lợi đó đã “mở đường cho đồng bào nông thôn ta xây dựng cuộc đời ấm no, góp phần xứng đáng vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế, củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh để đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà” (6).

         Tuy nhiên, cuộc vận động cải cách ruộng đất đã phạm một số sai lầm “Đó là những sai lầm nghiêm trọng, phổ biến, kéo dài về nhiều mặt, những sai lầm về những nguyên tắc, trái với chính sách của Đảng, trái với nguyên tắc và điều lệ của một đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin, trái với chế độ pháp luật của Nhà nước dân chủ nhân dân” (7).

        Những sai lầm đó đã làm ảnh hưởng, gây tổn thất rất lớn cho tổ chức đảng cơ sở và chính quyền, các tổ chức quần chúng các vùng nông thôn. Vì vậy, việc kịp thời sửa sai, chỉnh đốn tổ chức, thẳng thắn tự phê bình, nhận khuyết điểm trước nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, những người chịu trách nhiệm chính trong cải cách ruộng đất đã làm cho tình hình ở nông thôn dần dần đi vào ổn định. Cùng với việc đem lại ruộng đất cho nông dân là việc vận động và đưa nông dân vào các tổ đổi công, bước đầu của lối làm ăn tập thể.

         Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân ta hãy cùng nhau thi đua sản xuất và tiết kiệm để xây dựng đất nước. Tháng 4-1956, tại Hội nghị tổng kết công tác nông lâm ngư nghiệp, Người nói:

        “Muốn sản xuất tốt, phải xây dựng tổ đổi công cho tốt. Cần tăng cường số lượng và nhất là củng cố chất lượng tổ đổi công. Tổ đổi công là một hình thức để tiến dần lên xã hội chủ nghĩa. Các tổ ấy sẽ giúp cán bộ trong công tác hướng dẫn sản xuất và cải tiến kỹ thuật” (8).

        Song song với việc phát triển nông nghiệp là đẩy mạnh phát triển công nghiệp. Theo Người:

         Đời sống của nhân dân chỉ có thể được cải thiện khi chúng ta dùng máy móc trong sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, để đưa năng suất lao động lên cao. Để làm được như vậy thì công nhân phải là người chủ và phải hiểu rằng “Cái gì lợi cho nhà máy là ích lợi cho mình, cái gì hại cho nhà máy là hại cho nhà mình” (9), cần phải tăng năng suất, tăng chất lượng, hạ giá thành. Tóm lại là “phải làm mau, làm tốt, làm rẻ, làm nhiều” và thực hành tiết kiệm, tiết kiệm thì giờ, nguyên vật liệu, máy móc. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa cần phải thực hiện nguyên tắc phân phối theo sức lao động, theo mức sản xuất và chất lượng sản xuất “làm tốt, làm nhiều: hưởng nhiều, làm xấu, làm ít: hưởng ít” (10).

    Người đã đi thăm và tìm hiểu tình hình sản xuất cũng như đời sống của cán bộ, công nhân các cơ sở sản xuất, nhà máy, xí nghiệp, khu mỏ của các tỉnh Hải Phòng, Hồng Quảng, Nam Định, Lào Cai, Phú Thọ, Nghệ An, Hà Nội… Người đến thăm triển lãm nông nghiệp toàn quốc; thăm Hội nghị tổng kết cải cách ruộng đất đợt 5. Ngày 28-4-1955, trong thư gửi đồng bào Hồng Quảng, Người viết về những nhiệm vụ mà nhân dân Hồng Quảng cần phải làm sau chiến tranh để khôi phục lại cuộc sống bình thường. Ngày 7-2-1956, Người gửi thư khen huyện Mỹ Đức, Hà Đông về thành tích chống hạn.Những lời căn dặn của Người đã động viên nhân dân ta trong lao động sản xuất, học tập và công tác, góp phần ổn định, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần.

        Đi đôi với việc lãnh đạo khôi phục kinh tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng tới việc chỉ đạo phát triển nền văn hoá nước nhà. Người đã đi thăm một số trường phổ thông, các lớp bổ túc văn hoá, bình dân học vụ. Tại Đại hội giáo dục phổ thông toàn quốc (23-3-1956), Người chỉ rõ mối quan hệ mật thiết giữa kinh tế với giáo dục:

    “Giáo dục phải cung cấp cán bộ cho kinh tế. Kinh tế tiến bộ thì giáo dục mới tiến bộ được… Giáo dục không phát triển thì không đủ cán bộ giúp cho kinh tế phát triển” (11) và căn dặn “Các thầy giáo, cô giáo phải tìm cách dạy. Dạy cái gì, dạy thế nào để học trò hiểu chóng, nhớ lâu, tiến bộ nhanh. Dạy và học cần phải theo nhu cầu của dân tộc, của Nhà nước. Thầy dạy tốt, trò học tốt, cung cấp đủ cán bộ cho nông nghiệp, công nghiệp, cho các ngành kinh tế và văn hoá. Đó là nhiệm vụ vẻ vang của các thầy giáo, cô giáo” (12).

    Ngày 30-3-1956, Người đến thăm lớp bình dân học vụ của bà con lao động khu Lương Yên, Hà Nội.

    Tháng 2-1957, nói chuyện với Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ II, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những đóng góp to lớn của các văn nghệ sĩ đối với cách mạng, kháng chiến và trong xây dựng hoà bình, như đời sống văn hoá của nhân dân đã nâng cao một bước, tàn tích văn hoá xấu của chế độ cũ đã bị tẩy trừ dần. Một nền văn hoá mới đang được xây dựng, nhưng Người cũng chỉ ra những thiếu sót của công tác văn hoá:

    “Có bề rộng, chưa có bề sâu; nặng về mặt giải trí mà còn nhẹ về mặt nâng cao tri thức của quần chúng… Việc phát huy vốn cũ quý báu của dân tộc (nhưng tránh “phục cổ” một cách máy móc) và học tập văn hoá tiên tiến của các nước (trước hết là các nước bạn) cũng chưa làm được nhiều” (13). Các văn nghệ sĩ muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ thì phải học tập, phải “trau dồi tư tưởng, trau dồi nghệ thuật, đi sâu vào quần chúng. Phải đi sát sự thực. Và trong lúc tiến tới thì chúng ta phải trau dồi đạo đức cách mạng, trước hết là đức khiêm tốn” (14).

    Người nhắc nhở việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Tháng 2-1955, trong Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế, Người căn dặn:

    “Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khoẻ cho đồng bào… Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình… Lương y phải như từ mẫu” (15).

    Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm tới việc củng cố, xây dựng và phát triển quân đội và công an nhân dân, những lực lượng có vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ nền độc lập của dân tộc, giữ gìn hoà bình, chống thù trong giặc ngoài, chống bọn phá hoại và làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 10 (1-1956), Người nêu rõ:

    “Công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hoà bình lại càng nhiều việc. Còn chủ nghĩa đế quốc, còn giai cấp bóc lột là còn bọn phá hoại” (16).

    Muốn làm tròn nhiệm vụ, công an phải nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và của Chính phủ, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân và phải biết dựa vào dân. Nhân dịp kỷ niệm 2 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Người tới dự và phát biểu tại Lễ tuyên dương Anh hùng quân đội lần thứ ba tại Câu lạc bộ Quân đội, Hà Nội. Người nói:

    “Toàn quân ta phải ra sức học tập chính trị, quân sự và văn hoá; phải thi đua làm trọn nhiệm vụ bảo vệ biên giới, bảo vệ bờ biển, bảo vệ thành thị và giữ gìn trật tự an ninh cho nhân dân” (17).

    Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Ngày 3-12-1957, Người chủ toạ phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ bàn việc tổng kết kế hoạch 1957 và kế hoạch 3 năm (1958 -1960), nhằm đưa miền Bắc vào thời kỳ mới, thời kỳ cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế và văn hoá. Từ ngày 13 đến ngày 19-11-1958, Người dự Hội nghị Trung ương 14 bàn về tình hình, nhiệm vụ và kế hoạch nhà nước 3 năm (1958-1960) và tổng kết cải cách ruộng đất; Hội nghị Trung ương 16 (từ ngày 25 đến ngày 30-4-1959) bàn về vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp ở miền Bắc, về cải cách dân chủ ở miền núi và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh. Qua những lời phát biểu tại các hội nghị, các bài viết, bài nói của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã làm rõ hơn những nội dung cụ thể về đường lối, nhiệm vụ chiến lược và mối quan hệ chặt chẽ giữa hai nhiệm vụ chiến lược đồng thời tiến hành ở hai miền trong cuộc đấu tranh đòi thực hiện đúng những điều khoản của Hiệp định Giơnevơ. Người nhấn mạnh: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công thì đấu tranh thống nhất nước nhà nhất định thắng lợi” (18).

    Kế hoạch 3 năm cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế – văn hoá 1958 -1960 của Chính phủ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 14 đã được Quốc hội khoá I thông qua. Đường lối chung tiến lên chủ nghĩa xã hội do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá I (ngày 18-12-1959) đã khẳng định:

    “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến” (19) .

    Mục đích của chủ nghĩa xã hội là làm cho mọi người dân sung sướng ấm no, vì vậy: “Muốn đạt mục đích đó, thì trước hết phải tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm” (20). Việc cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp, phong trào hợp tác hoá nông nghiệp được tiến hành từng bước vững chắc, đi từ thấp đến cao. Trong một thời gian không dài (đến cuối năm 1960), công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp ở miền Bắc về căn bản đã hoàn thành. Song song với phong trào hợp tác hoá nông nghiệp, việc cải tạo xã hội chủ nghĩa với những người làm nghề thủ công, buôn bán nhỏ, với các nhà tư sản công thương và tư sản dân tộc đã được triển khai và thu được những thành tựu đáng kể, góp phần hoàn thành kế hoạch nhà nước 3 năm (1958-1960).

    Để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân thì cần phải phát triển văn hoá, giáo dục và y tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

    “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hoá” và “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải tăng gia sản xuất. Muốn tăng gia sản xuất tốt thì phải có kỹ thuật cải tiến. Muốn sử dụng tốt kỹ thuật thì phải có văn hoá” (21).

    Phát triển văn hoá là để từng bước nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân và cũng là để phát triển sản xuất. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến công tác giáo dục, để giáo dục ngày càng phát triển và phát huy được vai trò to lớn trong sự nghiệp xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, thiết thực phục vụ công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Đây không chỉ là mục tiêu, mà còn là trách nhiệm nặng nề, nhưng rất vẻ vang của công việc đào tạo thế hệ tương lai cho nước nhà:

    “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây.

    Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

    Chăm lo xây dựng quân đội và công an nhân dân để làm cơ sở cho cuộc đấu tranh củng cố hoà bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc, ngày 5-4-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Trường sĩ quan Lục quân. Người nêu hai nhiệm vụ trước mắt của quân đội:

    1- Xây dựng quân đội nhân dân ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu;

    2- Thiết thực tham gia lao động sản xuất để góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Người tặng nhà trường 100 huy hiệu để làm giải thưởng cho những học viên đạt được những thành tích cao trong học tập. Ngày 1-9-1959, tại lễ phong quân hàm cấp tướng cho một số cán bộ cao cấp trong quân đội, Người căn dặn:

    “Các đồng chí cần phải trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn, giản dị, gần gũi quần chúng và gương mẫu về mọi mặt. Dù ở cương vị nào, chúng ta cũng đều phải cố gắng để xứng đáng là người đày tớ trung thành và tận tụy của nhân dân” (22).

    Nhân dịp kỷ niệm 15 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1959), Người gửi thư chúc mừng toàn thể cán bộ và chiến sĩ, khen ngợi những thành tích đã đạt được trong 15 năm qua:

    “Trong kháng chiến, quân đội ta đã chiến đấu anh dũng, đánh thắng quân xâm lược. Trong hoà bình, quân đội ta đã ra sức học tập, công tác, sản xuất, giúp đỡ nhân dân, bảo vệ đất nước” (23).

    Người còn căn dặn: Phải nâng cao trình độ chính trị, kỹ thuật và văn hoá, ra sức công tác và lao động tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; phải trau dồi đạo đức cách mạng, đoàn kết, khiêm tốn, hết lòng vì Đảng, vì dân; phải nâng cao chí khí chiến đấu, luôn luôn sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hoà bình.

    Tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, tối ngày 5-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự và đọc diễn văn. Đây là bản tổng kết quá trình rèn luyện, phấn đấu của Đảng ta trong 30 năm qua, trong việc lãnh đạo nhân dân ta anh dũng chiến đấu chống giặc ngoại xâm, giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Người khẳng định:

    “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại!

    Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao,

    Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình.

    Đảng ta là đạo đức, là văn minh,

    Là thống nhất, độc lập, là hoà bình ấm no.

    Công ơn Đảng thật là to,

    Ba mươi năm lịch sử Đảng là cả một pho lịch sử bằng vàng” (24).

    Ngày 1-9-1960, tại Nhà hát lớn Hà Nội, Người đọc diễn văn bế mạc lễ kỷ niệm 15 năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người cho rằng với tinh thần hăng hái thi đua yêu nước của toàn dân ta, với sự giúp đỡ vô tư của các nước anh em thì công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nhất định thắng lợi và sự nghiệp hoà bình thống nhất đất nước nhất định thành công.

    Trong không khí vui mừng kỷ niệm 15 năm thành lập nước, ngày 5-9-1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam khai mạc tại Hà Nội. Hơn 500 đại biểu thay mặt cho 50 vạn đảng viên trong cả nước, tiêu biểu cho truyền thống đấu tranh anh dũng của Đảng ta trong 30 năm qua cùng đại biểu các Đảng Cộng sản anh em: Liên Xô, Trung Quốc, Anbani, Bungari, Ba Lan, Đảng Xã hội thống nhất Đức, Hunggari, Mông Cổ, Rumani, và Triều Tiên… đã tham dự đại hội.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc diễn văn khai mạc. Bài diễn văn tổng kết những thành tựu to lớn mà Đảng, từ sau Đại hội Đảng lần thứ II (1951) đã lãnh đạo nhân dân ta kháng chiến và kiến quốc trong hơn 9 năm. Miền Nam vẫn còn phải sống trong ách thống trị tàn bạo của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đã thành công trong công cuộc khôi phục kinh tế và đang hoàn thành thắng lợi kế hoạch 3 năm phát triển kinh tế và văn hoá và ngày càng củng cố thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Đại hội Đảng lần thứ III có một ý nghĩa quan trọng đối với cách mạng Việt Nam, vì đây là “Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà”. Tại đại hội, Người được bầu lại làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng và đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đại hội III của Đảng đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Để cụ thể hoá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng liên tiếp mở các hội nghị Trung ương bàn sâu từng chuyên đề: về phát triển nông nghiệp (7-1961), về phát triển công nghiệp (4-1962), về kế hoạch nhà nước (4-1963), về lưu thông phân phối và giá cả (12-1964).

    Từ chiến tranh chuyển sang hoà bình, từ chiến khu gian khổ trở về thành phố, một số cán bộ, đảng viên bắt đầu có tư tưởng ngại khó, ngại khổ, muốn nghỉ ngơi, hưởng thụ. Để kịp thời giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao nhận thức về chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, vớibút danh Trần Lực, tháng 12-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Đạo đức cách mạng. Đây là một tác phẩm quan trọng, đề cập đến những nội dung cơ bản của đạo đức cách mạng, đạo đức xã hội chủ nghĩa. Theo Người, làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, là một công việc rất vẻ vang, nhưng cũng rất nặng nề, một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ và rất phức tạp. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ mà cách mạng giao phó. Phải tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân, vì:

    “Chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng, nếu nó còn lại trong mình, dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng” (25).

    Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội, đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm như quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí. Điều chủ chốt nhất đạo đức cách mạng là:

    “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng…

    Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình… Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân” (26).

    “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” (27).

    Để công cuộc khôi phục kinh tế và phát triển văn hoá ở miền Bắc nhanh chóng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến việc phải nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng:

    “Cần phải tăng cường tập thể lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương trong Đảng và trong cơ quan chính quyền.

    Tập thể lãnh đạo phải đi đôi với cá nhân phụ trách.

    Phải mở rộng dân chủ; phải mở rộng phê bình và tự phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên” (28).

    Chủ tịch Hồ Chí Minh còn rất chú trọng đến việc bồi dưỡng và xây dựng những con người xã hội chủ nghĩa. Trong nhiều bài nói, bài viết của mình, Người đều nhấn mạnh: “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có người xã hội chủ nghĩa” (29). Con người mới xã hội chủ nghĩa là những người có đạo đức và tri thức, là những người vừa “hồng” vừa “chuyên”. Người cũng đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao trình độ lý luận của Đảng cho cán bộ, đảng viên, vì đây là một nhiệm vụ quan trọng. Có nâng cao trình độ lý luận thì cán bộ, đảng viên mới có thể hoàn thành tốt công tác của mình, nếu trình độ lý luận thấp kém thì trước những nhiệm vụ cách mạng mới và phức tạp sẽ không tránh khỏi sự lúng túng, dễ mắc phải sai lầm, khuyết điểm. Trong diễn văn khai mạc lớp lý luận khoá I Trường Nguyễn Ái Quốc, trả lời câu hỏi vì sao phải học tập và nâng cao trình độ lý luận của Đảng, Người nói:

    “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác- Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác- Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta” (30).

    Đảng cần phải nắm vững khoa học và kỹ thuật, vì vậy mỗi đảng viên đều phải cố gắng “học tập văn hoá, học tập khoa học và kỹ thuật” (31).

    Để lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thắng lợi kế hoạch 3 năm phát triển kinh tế và văn hoá, nhanh chóng thay đổi bộ mặt xã hội của miền Bắc, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức chăm lo đến công tác xây dựng Đảng, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước dân chủ nhân dân. Người nói:

    “Trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng cần phải mạnh hơn bao giờ hết” (32), phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên mọi lĩnh vực, trước hết là đối với Nhà nước.

    Một trong những nhiệm vụ cần phải làm là soạn thảo, thông qua các đạo luật và sửa đổi Hiến pháp để phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới. Chính vì vậy, Quốc hội khoá I, kỳ họp thứ 6, ngày 25-1-1957, đã quyết định thành lập Ban sửa đổi Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban. Qua một thời gian chuẩn bị, lấy ý kiến của đông đảo quần chúng nhân dân và sau 27 phiên họp, ngày 18-12-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Báo cáo Dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá I. Đây là bản báo cáo quan trọng, có giá trị lớn về lý luận và thực tiễn. Dự thảo Hiến pháp sửa đổi đã ghi rõ những thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong những năm qua và nêu lên nhiệm vụ cách mạng mới trong giai đoạn lịch sử mới. Sau khi xem xét và thảo luận, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp mới, bởi:

    “Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước ta, thích hợp với tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ đó. Nó đã hoàn thành sứ mệnh của nó. Nhưng so với tình hình mới và nhiệm vụ cách mạng mới hiện nay thì nó không thích hợp nữa. Vì vậy mà chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp ấy” (33).

    Nói về ý nghĩa quan trọng của Hiến pháp năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh kết luận:

    “Bản Hiến pháp này sẽ phát huy hơn nữa lòng yêu nước và chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, sẽ động viên nhân dân ta đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, cố gắng thi đua hơn nữa để xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” (34).

    Ngày 1-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký‎ Sắc lệnh số 1, công bố Hiến pháp mới – Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở nước ta. Ngày 21-7-1960, Người ký lệnh công bố các luật: Tổ chức Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; Tổ chức Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; Tổ chức Toà án Nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao.

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ năm 1954-1960, nhân dân ta ở hai miền Nam – Bắc đã kiên quyết thi hành Hiệp định Giơnevơ, hoàn thành cải cách ruộng đất, từng bước ổn định cuộc sống về cả tinh thần và vật chất. Đời sống của nhân dân miền Bắc đã từng bước ổn định, ý thức chính trị được nâng cao, kinh tế khôi phục, văn hoá, giáo dục, y tế theo con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, ngày càng phát triển.

    Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương được ký kết, hoà bình lập lại ở Đông Dương, nhưng đế quốc Mỹ can thiệp vào miền Nam Việt Nam. Cùng bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm, chúng đã gây ra nhiều cuộc thảm sát đẫm máu ở miền Nam Việt Nam, như: Chợ Được, Vĩnh Trinh, Ngân Sơn, Duy Xuyên, Củ Chi, v.v.. Trước dã tâm xâm lược và âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi:

    “Đồng bào miền Nam kháng chiến trước hết, giác ngộ rất cao. Tôi chắc rằng đồng bào sẽ đặt lợi ích cả nước trên lợi ích địa phương, lợi ích lâu dài trên lợi ích trước mắt, mà ra sức cùng đồng bào toàn quốc phấn đấu để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc” (35).

    Tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết, từ ngày 5 đến 10-9-1955, tại Hà Nội đã diễn ra Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc, thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Mặt trận đã thông qua Cương lĩnh mới để tập hợp đông đảo các tầng lớp giai cấp, dân tộc, tôn giáo… nòng cốt là liên minh công – nông, do Đảng ta lãnh đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự đại hội và được tôn vinh làm Chủ tịch danh dự của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trong lời bế mạc đại hội, khi nói về Cương lĩnh của Mặt trận, Người nói:

    Đó là “một cương lĩnh đại đoàn kết, mục đích của nó là đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước” (36).

    Trước âm mưu nham hiểm của đế quốc Mỹ và chính quyền thân Mỹ ở miền Nam gây ra chiến tranh, hòng xâm chiếm nước ta một lần nữa, trong thư gửi đồng bào cả nước, ngày 6-7-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên nhiệm vụ thiêng liêng của chúng ta lúc này là: Kiên quyết tiếp tục đấu tranh thi hànhHiệp định Giơnevơ, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hoà bình, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Một lần nữa Người khẳng định:

    “Nước Việt Nam ta nhất định phải thống nhất. Đồng bào Nam và Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà” (37) và “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta. Đại đoàn kết là một lực lượng tất thắng” (38).

    Trước những diễn biến mới của tình hình và nhằm đưa cách mạng miền Nam tiến lên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ tọa Hội nghị Trung ương 15 mở rộng (1-1959) bàn về nhiệm vụ cách mạng miền Nam và vai trò của miền Bắc đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đề ra đường lối của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới:

    “Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện dân tộc độc lập và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh” (39).

    Với mục tiêu và phương hướng:

    “Lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân” (40).

    Nghị quyết Trung ương 15 đã tạo một bước ngoặt mới trong phong trào cách mạng miền Nam. Mở đầu bằng phong trào Đồng khởi, cách mạng miền Nam đã chuyển từ thế bảo tồn lực lượng sang thế tiến công. Nhân dân miền Nam đã thu được những thắng lợi có ý nghĩa quyết định trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, tạo điều kiện cho sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam vào ngày 20-12-1960.

    Luôn luôn dành tình cảm yêu thương và sự quan tâm cho cách mạng và đồng bào miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho các cán bộ và các cháu trường học sinh miền Nam, thăm nơi an dưỡng dành cho đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc, thăm trại thiếu nhi miền Nam. Tin tưởng chắc chắn rằng Nam Bắc là một nhà, tháng 9-1954 trong thư gửi bộ đội, cán bộ và gia đình cán bộ miền Nam ra Bắc, Người viết:

    “Đến ngày hoà bình đã được củng cố, thống nhất được thực hiện, độc lập, dân chủ đã hoàn thành, đồng bào sẽ vui vẻ trở về quê cũ. Lúc đó rất có thể tôi sẽ cùng đồng bào vào thăm miền Nam yêu quý của chúng ta” (41).

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 06:04 18/05/2010
    Số lượt xem: 1067
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến