Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    Anh_Van_Giao_Tiep_Cho_Nguoi_Hoan_Toan_Mat_Goc___Ruby_Thao_Tran.flv NoiNayCoAnhSonTungMTP4772041.mp3 Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf

    Thành viên trực tuyến

    48 khách và 1 thành viên
  • Trần Khanh
  • Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Nguyến Ái Quốc - Hồ Chí Minh >

    Chủ tịch Hồ Chí Minh-Lãnh đạo phong trào cách mạng (1930 -1945)

    Tháng 2-1939, Nguyễn Ái Quốc rời Quế Lâm, tham gia lớp huấn luyện du kích tại Nam Nhạc thuộc Hành Dương, tỉnh Hồ Nam. Sau 7 tháng ở Hồ Nam, khoảng sau ngày 20- 9-1939, Nguyễn Ái Quốc rời Hồ Nam trở về Quế Lâm và đi Long Châu (một huyện nằm ở biên giới Việt – Trung, tỉnh Quảng Tây) để bắt liên lạc với người từ trong nước sang, nhưng không gặp được. Không bắt được liên lạc với đại diện của Trung ương, trong khoảng thời gian từ tháng 10-1939 đến cuối tháng 11-1939, Người di chuyển liên tục (Quế Lâm – Liễu Châu- Long Châu (19)- Quý Dương (20) – Côn Minh (21) – Trùng Khánh). Tại Trùng Khánh, Nguyễn Ái Quốc thường đến Văn phòng Bát lộ quân đóng tại thôn Hồng Nham và gặp gỡ Chu Ân Lai.

     ba_lo_quan__trang480001_500 

     

    Vào khoảng nửa cuối tháng 11-1939, Nguyễn Ái Quốc tìm đường đi Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam. Tại Côn Minh, Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương đã được lập lại do đồng chí Phùng Chí Kiên phụ trách. Tin tức từ trong nước đến Côn Minh rất đều đặn. Tại Côn Minh, nhờ sự giúp đỡ của các đồng chí trong Tỉnh ủy Vân Nam, Người bắt được liên lạc với Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng ta. Cuối tháng 2-1940, Nguyễn Ái Quốc gặp đồng chí Phùng Chí Kiên tại nhà ông Tống Minh Phương, số 77, đường Kim Bích, thành phố Côn Minh.

    Trao đổi với tổ chức đảng ở Côn Minh, Nguyễn Ái Quốc đề nghị đổi tên tờ Truyền tin thành Đ.T. Tháng 4-1940, Người đã cùng đồng chí Phùng Chí Kiên đi thăm một số cơ sở cách mạng dọc tuyến đường xe lửa Côn Minh – Hà Khẩu. Lúc này, Người sử dụng giấy giới thiệu của Việt Nam hưởng ứng Trung Quốc kháng địch hậu viện hội, cho hoạt động hợp pháp để đi Nghi Lương, Khai Viễn, Chỉ Thôn. Đầu tháng 6-1940, Nguyễn Ái Quốc với bí danh đồng chí Vương đến Thuý Hồ gặp các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp từ trong nước sang. Sau đó ít ngày, với bí danh Hồ Quang, Người giới thiệu các đồng chí Cao Hồng Lĩnh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đi học chính trị dài hạn ở Diên An, nhưng sau đó kịp thời hoãn lại vì tình hình thế giới có nhiều biến động. Ở Côn Minh, nghe tin phátxít Đức tấn công Pháp (15-6-1940), Chính phủ Pêtanh chấp nhận mọi điều kiện đầu hàng (22-6-1940), tạo ra những điều kiện mới cho sự phát triển của phong trào cách mạng, Nguyễn Ái Quốc quyết định triệu tập cuộc họp tại trụ sở báo Đ.T. Tại cuộc họp, Người nhấn mạnh:

    “Đây là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước để tranh thủ nắm thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng” (22).

    Hội nghị tán thành ý kiến của Người và quyết định: Tìm mọi cách về nước.

    Cuối tháng 6-1940, Người cử đồng chí Trần Văn Hinh đi Diên An để thiết lập mối quan hệ với quốc tế. Còn Người đi Trùng Khánh gặp Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Cuối tháng 7-1940, Người trở lại Côn Minh, định trở về nước theo hướng Côn Minh – Lào Cai nhưng không thực hiện được. Trong khi đó, tháng 9-1940, Nhật tiến hành xâm lược nước ta, thực dân Pháp hoàn toàn không kháng cự, dâng nước ta cho Nhật. Từ đây, nhân dân ta một cổ phải chịu hai tròng áp bức. Tháng 10-1940, Nguyễn Ái Quốc lại cùng một số đồng chí rời Côn Minh đi Quế Lâm (Quảng Tây) tìm đường trở về nước theo hướng mới. Tại đây, để có danh nghĩa hoạt động, Người cho lập lại Việt Nam độc lập đồng minh - tổ chức chính trị chống đế quốc của người Việt Nam (được phép chính quyền Tưởng Giới Thạch cho thành lập từ năm 1935 tại Nam Kinh), và mời ông Hồ Học Lãm làm Chủ nhiệm Văn phòng hải ngoại của tổ chức.

    Trước những biến động của tình hình thế giới, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 (tháng 11-1940) và chỉ rõ: “Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng: lĩnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập” (23). Hội nghị quyết định: Tiếp tục duy trì đội du kích Bắc Sơn, hoãn khởi nghĩa Nam Kỳ, chắp nối liên lạc với Quốc tế Cộng sản và bộ phận hải ngoại của Đảng. Công việc trọng yếu này giao đồng chí Hoàng Văn Thụ phụ trách.

    Thời kỳ này, để tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam, với bút danh Bình Sơn, Nguyễn Ái Quốc viết 12 bài đăng trên Cứu vong nhật báo (Trung Quốc) như: Ông-trôi-có-mat” (15-11-1940), tố cáo Pháp – Nhật, ca ngợi tình đoàn kết của nhân dân Trung Quốc và Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Nhật – Pháp; Ca dao Việt Nam và cuộc kháng chiến của Trung Quốc (4-12-1940), đưa tin nhân dân Việt Nam chi viện mọi mặt cho cuộc kháng chiến của nhân dân Trung Quốc; Mắt cá giả ngọc trai (5-12-1940), tố cáo Nhật cho tay chân đóng giả nhân dân Trung Quốc để dò la tin tức… Đồng thời, Người cũng viết nhiều bài tuyên truyền về sự chi viện của nhân dân Việt Nam cho cuộc kháng chiến của nhân dân Trung Quốc, coi “cứu Trung Quốc là tự cứu mình”.

    Hạ tuần tháng 12-1940, Nguyễn Ái Quốc cùng một số cán bộ rời Quế Lâm đi xuống Tĩnh Tây (Quảng Tây). Vài ngày sau Tết dương lịch năm 1941, đồng chí Hoàng Văn Thụ đã gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Tân Khư (Tĩnh Tây). Thay mặt Trung ương Đảng, đồng chí báo cáo với Người tình hình trong nước, những công việc đang thực hiện và kế hoạch chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương lần thứ tám, đồng thời đề nghị Người nên chọn hướng Cao Bằng để về nước. Mấy ngày sau, Người cùng Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp được đồng chí Hoàng Sâm dẫn đường, qua Nậm Bo xuống Nậm Quang (sát biên giới Việt – Trung). Tại Nậm Quang, Nguyễn Ái Quốc mở lớp huấn luyện cho 43 cán bộ cách mạng Việt Nam. Chương trình của lớp học rất thiết thực, với các nội dung cơ bản như: Tình hình quốc tế, trong nước; tổ chức đoàn thể quần chúng; cách thức tổ chức, huấn luyện đấu tranh. Người cũng căn dặn các học viên trong mối liên hệ với dân có 5 điều nên làm và 5 điều nên tránh. Các tài liệu do Người tổ chức biên soạn và giảng dạy, sau đó được in litô thành sách Con đường giải phóng.

    Lớp huấn luyện kết thúc vào khoảng giáp Tết âm lịch. Người cùng Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp, Thế An và Hoàng Văn Lộc cũng chuẩn bị gấp rút về nước. Ngày 1-1 Tết Tân Tỵ (năm 1941), Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí trong đoàn đi chúc Tết nhân dân hai làng Nậm Quang và Ngàn Tấy. Ngày hôm sau 28-1-1941, tức 2-1 Tết, đoàn rời Nậm Quang trở về nước.

     images44603__ve_nuoc_trang490001_500

    Như vậy là, sau gần 30 năm bôn ba tìm đường giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản thành một lãnh tụ của Đảng Cộng sản Đông Dương, một người chiến sĩ cộng sản quốc tế. Trong những năm tháng gian lao ấy, dù đã từng bị tù đầy trong lao tù đế quốc, nhưng Người vẫn kiên định con đường đã lựa chọn, đã kiên nhẫn chờ đợi để thực hiện khát vọng giải phóng dân tộc Việt Nam và những người bị áp bức. Vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, những trở ngại tưởng chừng như không thể vượt qua nổi, mong ước được trở về nước trực tiếp lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc của Người đã trở thành hiện thực. Ngày 28-1-1941, Người đã trở về Tổ quốc:

    “Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ. Hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến, lòng Bác vô cùng cảm động” (24).

    Vượt qua cột mốc biên giới 108, Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí về đến xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ở lại nhà ông Lý Quốc Súng (Máy Lỳ) một thời gian ngắn, ngày 8-2-1941, Người bắt đầu sống và làm việc tại hang Cốc Bó, thôn Pác Bó, Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng. Cuối tháng 3-1941, do bị địch lùng sục, Người rời Pác Bó sang Khuổi Nậm. Trong tháng 4-1941, Nguyễn Ái Quốc nhiều lần vượt qua biên giới trở lại Tĩnh Tây và nhận được sự giúp đỡ quý báu của những người dân Trung Quốc. Cuối tháng 4-1941, theo đề nghị của Người, một cuộc hội nghị cán bộ tỉnh Cao Bằng được triệu tập, để tổng kết kinh nghiệm tổ chức thí điểm các hội quần chúng như: Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc nhằm tiến tới thành lập Mặt trận Việt Minh trong toàn quốc.

    Sau một thời gian ngắn chuẩn bị, tháng 5-1941, lấy danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941), với sự tham gia của các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên, một số đại biểu Xứ uỷ Bắc Kỳ, Trung Kỳ (Bùi San, Hồ Xuân Lưu) và đại biểu hoạt động ở ngoài nước. Nghị quyết Hội nghị Trung ương tám đã đề cập và làm rõ nhiều vấn đề quan trọng của cách mạng Việt Nam, trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ hai ngày càng lan rộng.

    Từ việc phân tích kỹ tình hình, thế và lực của cách mạng Việt Nam, Hội nghị quyết định “cần phải thay đổi chiến lược”, “phải thay đổi chính sách cách mạng ở Đông Dương cho phù hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân dân Đông Dương” và đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Từ việc xác định rõ kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương là “phátxít Pháp – Nhật và các lực lượng phản cách mạng tay sai cho chúng”, hội nghị xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết nhất của cách mạng Đông Dương, cho nên tập trung vào nhiệm vụ: “Đánh đuổi Pháp – Nhật làm cho xứ Đông Dương độc lập”.

    Hội nghị nhận định:

    “Cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng” (25). “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” (26).

    Vì vậy, tiếp tục tinh thần của văn kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới của Đảng (10-1936), Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11-1939), và Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (10-1940), để tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp, hội nghị quyết định tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian… sau này sẽ tiến lên thực hiện đầy đủ chính sách người cày có ruộng. Chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ mỗi nước Đông Dương, hội nghị bàn về vấn đề chính quyền và nêu rõ: “Không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xôviết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hoà” (27), đồng thời nêu khẩu hiệu “thành lập  nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” v.v.. Kết luận, Hội nghị khẳng định: “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang” (28). Theo đề nghị của Người, hội nghị đã bầu Ban Chấp hành Trung ương mới, cử đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư và Ban Thường vụ gồm các đồng chí: Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ và Hoàng Quốc Việt.

    Để tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, tranh thủ mọi lực lượng yêu nước có thể tranh thủ, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù, hội nghị quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Ngày 19-5-1941, Mặt trận Việt Minh chính thức ra đời với Tuyên ngônChương trình cụ thể. Để nhấn mạnh mục tiêu giải phóng dân tộc, tất cả tên của các tổ chức quần chúng đều được gọi là Hội Cứu quốc, nhằm thực hiện hai mục tiêu của toàn thể quốc dân:

    1- Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập.

    2- Làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do.

    Mười chính sách lớn của Việt Minh về đối nội và đối ngoại, thể hiện trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và ngoại giao, phù hợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân đã góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng ngày càng phát triển rộng rãi.

    Nội dung Nghị quyết Trung ương lần thứ tám và sự thay đổi chiến lược cách mạng của Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng trong việc giải quyết một cách đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và giai cấp, dân tộc và dân chủ trong điều kiện cụ thể của nước ta, chính là sự hoàn chỉnh nội dung các nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 6 và 7 trước đó. Sự thay đổi chiến lược một cách kịp thời, đầy sáng tạo của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 đáp ứng được khát vọng độc lập, tự do của toàn dân tộc, phù hợp với bối cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, thực chất là sự trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường của cách mạng Việt Nam đã được nêu ra trong Chánh cương, Sách lược vắn tắt từ đầu năm 1930.

    Việc hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, thành lập chính thể dân chủ cộng hoà, phù hợp với tình hình mới, thể hiện tư duy độc lập, tự chủ, tính khoa học đúng đắn, tính cách mạng sáng tạo của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc và những quyết định tài tình của Người đã trở thành một trong những nhân tố quyết định thành công của công cuộc vận động giải phóng dân tộc trong những năm 1941 – 1945.

    Sau hội nghị, ngày 6-6-1941, Nguyễn Ái Quốc viết Kính cáo đồng bào kêu gọi phải đoàn kết lại để đánh đổ bọn đế quốc và Việt gian, đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng. Trong thư, Người nhấn mạnh: Việc cứu nước là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm, và kêu gọi: “Toàn thể đồng bào tiến lên. Đoàn kết thống nhất đánh đuổi Pháp, Nhật” (29), và kiến lập chính thể “dân chủ cộng hoà”. Đồng thời, để đẩy mạnh việc tuyên truyền, cổ động quần chúng thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tám, động viên nhân dân tích cực tham gia các hội cứu quốc của Mặt trận Việt Minh, tích cực xây dựng và phát triển căn cứ địa cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết định xuất bản báo Việt Nam độc lập, gọi tắt là Việt lập. Số 1 của báo ra ngày 1-8-1941, được đánh số 101, với mục đích kế tục sự nghiệp của các tờ báo cách mạng xuất bản trước đó. Từ 1-8-1941 đến Tổng khởi nghĩa Tháng 8-1945, báo ra được 226 số. Sau đó, báo tiếp tục được xuất bản và chuyển thành cơ quan ngôn luận của tỉnh Cao Bằng.

     

    Nội dung của báo tập trung vào các nội dung: Đẩy mạnh việc cổ động, tuyên truyền, tổ chức nhân dân vào các hội cứu quốc của Việt Minh, chĩa mũi nhọn đấu tranh vào kẻ thù chủ yếu của cách mạng là phátxít Nhật – Pháp và bè lũ tay sai, hướng dẫn cách tổ chức các đội du kích, đội tự vệ, cách vận động binh lính, công tác đào tạo đội ngũ và hướng dẫn phương pháp tự rèn luyện cho cán bộ hội viên. Tuy chỉ in với số lượng vài trăm bản, phát hành trong phạm vi vài ba tỉnh nhưng báo Việt Nam độc lập được quần chúng yêu mến. Với mục đích: “Cốt làm cho dân ta hết ngu hèn, biết các việc, biết đoàn kết, đặng đánh Tây, đánh Nhật, làm cho Việt Nam độc lập, bình đẳng, tự do” (30), báo Việt Nam độc lập đã cùng với nhiều tờ báo cách mạng khác, phát động toàn dân tiến tới Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi.

    Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 6 đến tháng 11 năm 1941, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt chú ý đến công tác cán bộ và bồi dưỡng cán bộ, mở những lớp huấn luyện ngắn ngày cho cán bộ địa phương, yêu cầu chọn một số thanh niên Cao Bằng gửi đi học lớp vô tuyến điện ở Liễu Châu (Trung Quốc), giao cho Lê Thiết Hùng, Lê Quảng Ba và Hoàng Sâm cùng cộng tác mở lớp huấn luyện quân sự, quyết định tổ chức một đội vũ trang, v.v.. Cũng trong thời kỳ này, Nguyễn Ái Quốc đã biên soạn một số cuốn sách, làm tài liệu phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng:

       1. Cách đánh du kích, là một trong những tác phẩm đầu tiên của Người về quân sự. Với 13 chương, cuốn sách nêu những vấn đề có tính thiết thực và cách mạng triệt để. Tác phẩm trình bày kinh nghiệm lịch sử với phân tích lý luận, làm nổi rõ tư tưởng chiến lược quân sự cách mạng là tiến công, đồng thời khẳng định:

    “Du kích là đánh úp hay đánh lén, đánh lúc kẻ thù không ngờ, không phòng. Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc” (31).

    Tác phẩm giới thiệu kinh nghiệm lịch sử và bước đầu nêu lên một số vấn đề về đường lối quân sự chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang. Đây là một tác phẩm kế thừa và phát triển tư tưởng và nghệ thuật quân sự truyền thống của tổ tiên ta, đồng thời thể hiện sự vận dụng sáng tạo lý luận về chiến tranh nhân dân của chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

       2. Lịch sử nước ta, gồm 236 câu lục bát, tập trung chủ yếu vào lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân ta, nêu bật truyền thống yêu nước, tinh thần bất khuất và đoàn kết của dân tộc (từ thời Vua Hùng đến năm 1942). Trong tác phẩm này, Hồ Chí Minh rút ra một kết luận có tính nguyên tắc, một bài học lớn về tinh thần đoàn kết, đó là:Dân ta xin nhớ chữ đồng. Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh, và tiên đoán: “Năm 1945 Việt Nam độc lập “. Diễn ca lịch sử này được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, nhằm giáo dục và động viên mọi người phát huy truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc, góp phần chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám 1945.

       3. Cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Liên Xô tóm tắt, do Nguyễn Ái Quốc dịch, dùng để làm tài liệu cho hai lớp: Bồi dưỡng về Đảng cho cán bộ tỉnh uỷ Cao Bằng và cán bộ chủ chốt cấp huyện.

    Bước sang năm 1942, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn ác liệt. Ở Đông Dương, Pháp đầu hàng, dâng Đông Dương cho Nhật. Chiến tranh đã làm cho mâu thuẫn giữa các phe phái, các lực lượng, đặc biệt là mâu thuẫn giữa nhân dân ta với bọn phátxít Nhật – Pháp càng thêm gay gắt, thúc đẩy tình thế cách mạng mau chín muồi. Trong bối cảnh đó, ngày 21-12-1941, Trung ương Đảng ra thông báo về cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và trách nhiệm cần kíp của Đảng. Cùng ngày, trên báo Việt lập, Nguyễn Ái Quốc viết bài Thế giới đại chiến và phận sự của dân ta, nêu hai nhiệm vụ của nhân dân Việt Nam, thực hiện “vườn không nhà trống” và mau mau tổ chức lại. Cuối cùng, Người kêu gọi “Hỡi đồng bào! Cơ hội giải phóng đến rồi, mau mau đoàn kết lại!!!”.

    Trong bước chuyển của tình hình, nhận thức được tầm quan trọng của liên minh quốc tế, đặc biệt là sự phối hợp cùng nhân dân Trung Quốc chống Nhật, ngày 13-8-1942, Nguyễn Ái Quốc lên đường sang Trung Quốc. Lấy tên mới Hồ Chí Minh, Người đi Trung Quốc với tư cách là đại biểu của phong trào Việt Minh và đại diện của Phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội quốc tế chống xâm lược.

    Ngày 27-8-1942, khi đến phố Túc Vinh (Thiên Bảo, Quảng Tây), Hồ Chí Minh bị bắt với lý do những giấy tờ tuỳ thân của Người đã quá hạn sử dụng. Hơn một năm trời, bị giải qua hơn 30 nhà lao của 13 huyện của tỉnh Quảng Tây, phải trải qua những ngày tháng bị giam cầm thiếu thốn, khổ cực, bệnh tật, Hồ Chí Minh đã viết 133 bài thơ bằng chữ Hán, theo thể thất tuyệt, thất luật, ngũ ngôn và tạp thể, chép trên một loại giấy bản, đóng thành tập, bên ngoài ghi bốn chữ: Ngục trung nhật ký.

     

     images44609_56_500

    Cuốn Nhật ký bằng thơ này đã tái hiện một quãng đời của Hồ Chí Minh trong các nhà ngục của tỉnh Quảng Tây, thể hiện rõ phong thái ung dung, khí phách hào hùng “thân thể ở trong lao, tinh thần ở ngoài lao”, đồng thời phản ánh chân thực chế độ nhà tù hà khắc của Tưởng Giới Thạch và một phần bộ mặt thật xã hội Trung Quốc những năm 1942-1943.Ngục trung nhật ký thể hiện tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tinh thần lạc quan cách mạng và tình cảm nhân đạo cộng sản chủ nghĩa cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là một tác phẩm văn học lớn của một người chiến sĩ cộng sản vĩ đại, được thể hiện bằng ngôn ngữ giản dị mà hàm súc, một bút pháp đa dạng và sáng lấp lánh như một viên ngọc quý trong nền văn học cách mạng Việt Nam. Ngục trung nhật ký gắn với  tên tuổi Hồ Chí Minh – nhà văn hoá kiệt xuất trong dân tộc Việt Nam của thế kỷ XX.

    Ngày 10-9-1943, Người được trả tự do, nhưng vẫn bị quản chế. Sức khoẻ của Người sau khi ra tù rất yếu, vì vậy, Người đã đặt một kế hoạch và kiên trì tập luyện. Vào khoảng giữa tháng 9-1943, Hồ Chí Minh viết bài thơ Tân xuất ngục học đăng sơn lên mép của một tờQuảng Tây nhật báo, rồi gửi về nước kèm theo một bức thư, báo tin đã được trả tự do, song vẫn bị quản chế với tư cách “cố vấn”, để Đoàn thể ở trong nước cần có sự vận động mạnh giúp Người được trả tự do hoàn toàn. Cuối tháng 10-1943, theo yêu cầu của Trương Phát Khuê, Hồ Chí Minh tham gia một số hoạt động của Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội – tổ chức của người Việt Nam tại Trung Quốc, gồm nhiều đảng phái, được sự hỗ trợ của Đệ tứ chiến khu, do tướng Trương Phát Khuê trực tiếp chỉ đạo. Để tranh thủ uy tín, đức độ và tài năng của Hồ Chí Minh, thực hiện kế hoạch hợp tác với Việt Minh, triển khai “Hoa quân nhập Việt”, Trương Phát Khuê đề nghị Hồ Chí Minh hợp tác với Nguyễn Hải Thần – lãnh tụ của Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội, để cải tổ lại Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội.

    Chủ trương của Đảng ta trong việc hợp tác với tổ chức này được thể hiện rõ trong Nghị quyết của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (25 đến 28-2-1943): “Hết sức vận động cho Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội và Việt Nam độc lập Đồng minh” hợp lại làm một, đặng mau tập trung lực lượng cách mạng Việt Nam đánh đuổi phát xít Nhật – Pháp” (32).

    Trên tinh thần đó, Hồ Chí Minh nhận lời tham gia tổ chức, để vừa tranh thủ, lôi kéo những phần tử yêu nước và tiến bộ về phía cách mạng. Cuối tháng 11-1943, Hồ Chí Minh đã chuyển đến ở tại trụ sở Tổng bộ Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội tại đường Ngư Phong, thành phố Liễu Châu. Tại đây, Người viết bài cho báo Đồng minh – cơ quan ngôn luận của Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội, xuất bản bằng tiếng Việt ở Liễu Châu.

    Tại một cuộc họp trù bị của Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội, theo ý kiến của Hồ Chí Minh, để đi đến thống nhất, đại hội của Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội sẽ được gọi làĐại hội đại biểu các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở hải ngoại. Tham gia Đại hội có đại biểu của Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội, Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Phục quốc quân, Đảng Đại Việt,… đại biểu của Quốc dân Đảng Trung Hoa và chính quyền Tưởng Giới Thạch. Tại đại hội, ngày 16-3-1944, Hồ Chí Minh đọc báo cáo: Về tình hình các đảng phái trong nước và chỉ rõ dù có nhiều đảng phái, nhưng đảng có ảnh hưởng nhất, tổ chức chặt chẽ nhất và nổi tiếng nhất là Đảng Cộng sản. Người cũng báo cáo Về tổ chức và hoạt động của phân hội Việt Nam tại đại hội. Sau đó, đại hội đã bầu lại Ban Chấp hành và Ban kiểm tra. Hồ Chí Minh được bầu làm Uỷ viên của Ban Chấp hành. Lợi dụng cương vị này, Người thảo kế hoạch đưa lực lượng thanh niên trong lớp huấn luyện đặc biệt ở Liễu Châu về nước phát triển lực lượng.

    Do tranh thủ được sự đồng tình của Trương Phát Khuê, ngày 9-8-1944, Hồ Chí Minh rời Liễu Châu và cuối tháng 9-1944, Người về đến Cao Bằng. Ngay sau khi về nước, nhận thấy các điều kiện cần thiết cho một cuộc khởi nghĩa chưa đến độ chín muồi, Người đã kịp thời hoãn chủ trương phát động chiến tranh du kích của Liên Tỉnh uỷ Cao – Bắc – Lạng. Theo Người, trước tình thế mới, cần phải tìm một hình thức thích hợp thì mới có thể đi tới thành công, vì vậy, quyết định kịp thời của Người không chỉ tránh tổn thất cho phong trào cách mạng của ba tỉnh Cao – Bắc – Lạng, mà còn vạch ra một hướng đi phù hợp, đúng đắn của một phương pháp đấu tranh trong thời điểm then chốt của lịch sử dân tộc.

    Trước tình hình thế giới, những điều kiện thuận lợi và khó khăn của cách mạng Việt Nam, tháng 10-1944, Hồ Chí Minh viết Thư gửi đồng bào toàn quốc và dự đoán thời cơ của cách mạng Việt Nam:

    “Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh!” (33).

    Tình thế cách mạng đang chín muồi, cuối tháng 10-1944, Hồ Chí Minh đến kiểm tra Đại đội tự vệ vũ trang (34) chiến đấu Hồng Phong (tên bí mật của châu Hà Quảng). Sau khi phân tích tình hình và cân nhắc những điều kiện, chuẩn bị cho ngày “vùng lên”, Hồ Chí Minh nhấn mạnh phương châm kết hợp hai hình thức đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, đẩy mạnh phong trào cách mạng, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Người chỉ rõ: Lực lượng vũ trang muốn phát triển, chủ yếu phải dựa vào nhân dân, dựa vào phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Các đoàn thể cách mạng của quần chúng càng được củng cố và phát triển thì càng tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang. Theo tinh thần đó, Người quyết định thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và giao đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách. Mục đích và nguyên tắc tổ chức đội được nêu rõ trong bản chỉ thị thành lập:

    “Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền”, “Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam” (35).

    Sau một thời gian ngắn chuẩn bị, ngày 22-12-1944,Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Sam Cao (còn gọi là Trần Hưng Đạo), thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, gồm 34 đội viên do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Thực hiện lời căn dặn: “Trận đầu phải thắng” của Người, đội đã lập liên tiếp hai chiến công oanh liệt: hạ đồn Phai Khắt ngày 25-12-1944 và đồn Nà Ngần ngày 26-12-1944, mở đầu truyền thống anh dũng vẻ vang của quân đội ta.

     images44611_58_500

    Sự ra đời và những hoạt động của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là một biểu hiện sinh động của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Đây vừa là sự kế thừa, phát triển di sản quân sự truyền thống của cha ông ta trong lịch sử, vừa là sự tiếp thu và vận dụng sáng tạo tư tưởng lý luận quân sự hiện đại của học thuyết Mác – Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Thắng lợi mở đầu của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân có ảnh hưởng to lớn đối với phong trào cách mạng cả nước.

    Cùng với sự phát triển của phong trào Việt Minh, việc thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và các lực lượng vũ trang tại các địa phương,  cùng khí thế quần chúng dâng cao đã làm cho các lực lượng phản động ngày càng hoang mang, lo sợ, tạo ra những thuận lợi mới cho cuộc Tổng khởi nghĩa sắp tới.

     Sưu tầm


    Nhắn tin cho tác giả
    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 10:46 15/05/2010
    Số lượt xem: 2683
    Số lượt thích: 1 người (Lê Cương Trực)
     
    Gửi ý kiến