Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    Anh_Van_Giao_Tiep_Cho_Nguoi_Hoan_Toan_Mat_Goc___Ruby_Thao_Tran.flv NoiNayCoAnhSonTungMTP4772041.mp3 Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf Bai_ca_nguoi_giao_vien_nhan_dan.swf

    Thành viên trực tuyến

    12 khách và 1 thành viên
  • Nguyễn Minh Thu
  • Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Nhân vật lịch sử >

    Lê Văn Khôi và cuộc binh biến ở thành Phiên An

    Lê Văn Khôi (? – 1834) tên thật là Bế - Nguyễn Nghê, còn được gọi là Hai Khôi (Theo Nguyễn Phan Quang, Việt Nam thế kỷ XIX, NXB TP. HCM, 2002, tr. 230-237), Nguyễn Hựu Khôi (Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, ghi Nguyễn Hữu Khôi.) hay Bế Khôi, là con nuôi, là thuộc tướng của Lê Văn Duyệt và là người lãnh đạo cuộc khởi binh chống lại nhà Nguyễn ở thành Phiên An (tức vùng Gia Định cũ, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh)

    I.Gia thế:
    Căn cứ Tộc phả Bế - Nguyễn, ông tổ đời thứ 9 của Lê Văn Khôi, vốn họ Nguyễn tức Nguyễn Tông Thái. Đời ông tổ đời thứ 8 đổi theo họ tỗ mẫu (họ mẹ), gọi là Bế Công. Đến ông tổ đời thứ 5, vì có công dẹp nhà Mạc nên đời đời tập chức phiên thần, cai quản địa phương và trở thành dòng họ lớn ở Cao Bằng...

    Đến tháng 9 năm Canh Thân (1740), năm đầu Cảnh Hưng, vua Hiển Tông Vĩnh Hoàng đế lại cho đổi làm họ Bế - Nguyễn. (Theo Nguyễn Phan Quang, sách đã dẫn)

    Cũng theo tộc phả này, Lê Văn Khôi là con trai Bế Kiện. Và Khôi là một người cao lớn, dũng mãnh, ăn nhiều, tính hay khôi hài, tài võ xuất chúng...Về võ nghệ, tương truyền khi vào Gia Định, có lần Lê Văn Khôi dùng tay không chống lại cọp dữ, cho sứ thần nước Xiêm coi. Về tài văn, bổn tuồng ''San hậu'', có nhiều đoạn do Khôi nhuận sắc. (Vương Hồng Sển, ''Khảo về đồ sứ men lam (Huế)'', NXB Mỹ thuật, 1994, tr. 208)

    II.Thân thế:
    2.1 Theo Lê Văn Duyệt:
    Liệt truyện ghi: “năm Gia Long thứ 18 (1819), ở hai trấn Thanh Nghệ và Thanh Bình (nay đổi là Ninh Bình), Thiên Quan (tên phủ, nay đổi là Nho Quan), những lưu dân, thổ phỉ tụ họp nhau làm giặc, quan sở tại không kiềm chế nổi, vua sai tả quân Lê Văn Duyệt tới đó kinh lược. (Khi ấy) Khôi mộ quân lệ thuộc dưới trướng, đánh dẹp thường có công. Duyệt yêu mến dùng làm nanh vuốt”.

    Trần Trọng Kim cho biết chi tiết hơn:“ Lê Văn Khôi, khởi binh làm loạn, bị quan quân đuổi đánh, mới chạy vào Thanh Hóa, gặp Lê Văn Duyệt xin đầu thú. Ông Duyệt tin dùng cho làm con nuôi, đổi tên họ là Lê Văn Khôi, rồi đem về Gia Định cất nhắc cho làm đến phó vệ úy.”(Trần Trọng Kim, ''Việt Nam sử lược'', NXB Tân Việt, 1968, tr.445)

    Nhưng theo Nguyễn Phan Quang tìm hiểu thì “rất có thể Lê Văn Khôi rời Cao Bằng đi đến vùng thượng du Hòa Bình, Thanh Hóa (nơi vốn có mối quan hệ lâu đời với dòng họ của Lê Văn Khôi), nhằm liên kết với cuộc đấu tranh của các lang đạo họ Đinh, họ Quách của dân tộc Mường. Và Lê Văn Khôi đã đi theo Lê Văn Duyệt vào khoảng thời gian lãnh tụ Quách Tất Thúc và 2 con đầu hàng Duyệt và được Duyệt cho theo quân thứ."(Theo Nguyễn Phan Quang, sách đã dẫn)

    2.2 Khởi binh chống nhà Nguyễn:
    Năm 1832, Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất vì bệnh, vua Minh Mạng vốn không bằng lòng ông Duyệt từ trước, liền cho bãi chức Tổng trấn thành Gia Định, chia vùng đất miền Nam do ông Duyệt cai quản ra làm 6 tỉnh (Nam Kỳ lục tỉnh), cắt đặt quan lại vào thay và dựng lên vụ án Lê Văn Duyệt…
    Lê Văn Duyệt bị vu nhiều tội, nên mồ mả bị xiềng, tài sản bị tịch thu, vợ và các thuộc hạ thân tín đều bị bắt giam…

    Trong những quan lại ấy có Nguyễn Văn Quế làm tổng đốc, Bạch Xuân Nguyên làm bố chính, Nguyễn Chương Đạt làm án sát. Và “ vốn là người tham lam, tàn ác; nên khi đến làm bố chính ở Phiên An, Bạch Xuân Nguyên nói rằng phụng mật chỉ truy xét việc riêng của Lê Văn Duyệt, rồi đòi hỏi chứng cớ, trị tội bọn tôi tớ của ông Duyệt ngày trước (trong số đó có Lê Văn Khôi bị cầm tù)'' ( theo Trần Trọng Kim, sách đã dẫn).

    Ở trong tù, Lê Văn Khôi ngầm liên hệ được với binh lính bên ngoài, nên vào đêm 18 tháng 5 năm 1833, Khôi cùng 27 người lính đồng mưu đột nhập dinh giết cả nhà Bạch Xuân Nguyên, người trực tiếp lo vụ án Lê Văn Duyệt. Nguyễn Văn Quế đem quân đến cứu cũng bị giết...

    Chiếm được thành Phiên An (và chỉ trong vòng một tháng, Khôi chiếm luôn 6 tỉnh Nam Kỳ), Lê Văn Khôi cho mở cửa tù, thả hết phạm nhân và phát khí giới cho họ. Khôi tự xưng là Đại nguyên súy, phong quan tước cho thuộc hạ, rồi cùng lập một triều đình riêng.

    3.3 Phiên An thất thủ:
    Hay tin, vua Minh Mạng liền cử Tống Phúc Lương, Nguyễn Xuân, Phan Văn Thúy, Trương Minh Giảng và Trần Văn Năng đem thủy bộ binh tượng vào đánh Khôi.

    Địa chủ, phú hào các nơi dao động, không dám ủng hộ Khôi nữa. Tiếp đó, một tướng giỏi của Khôi là Thái Công Triều (người Thừa Thiên, nguyên là vệ úy coi vệ biền binh ỏ Phiên An) cũng đầu hàng triều đình, khiến lực lượng nổi dậy suy yếu nhanh chóng.( Lê Văn Khôi đã phạm một sai lầm nghiêm trọng là cắt đôi đất Nam Kỳ, giao một nữa cho Thái Công Triều trực tiếp quản lĩnh. Theo Nguyễn Phan Quang, sách đã dẫn.)

    Lúng túng trước tỉnh thế, Lê Văn Khôi dựa vào giáo sĩ phương Tây, nhờ họ đi cầu viện quân Xiêm (tức Thái Lan ngày nay), làm cho tinh thần quân dân càng bất đồng và nao núng.
    Nhân cơ hội này, các tướng nhà Nguyễn nhanh chóng thu phục lại các tỉnh đã mất. Lê Văn Khôi phải rút vào thành Phiên An cố thủ.

    Đầu năm 1834, Lê Văn Khôi bị bệnh phù thủng, chết ở trong thành.
    Con trai Khôi là Lê Văn Cù mới 8 tuổi (Nguyễn Quang Thắng, sách đã dẫn, ghi Lê Văn Câu. Sách ''Sài Gòn - TP. HCM'' do TS. Quách Thu Nguyệt chủ biên, ghi Lê Văn Cú. Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, ghi 7 tuổi.) được cử lên thay.
    Bấy giờ, hiện trạng rất nguy ngập: Thành bị bao vây, dịch tả hoành hành, súng đạn hư hỏng vơi cạn dần, lương thực tuy nhiều nhưng bị ẩm mốc, quân Xiêm kéo sang giúp bị đánh bại, hàng ngũ binh lính và nhân dân ly tán…

    Ngày 16 tháng 7 năm 1835, quân triều đình chia làm 8 mũi, tấn công ồ ạt vào thành Phiên An. Quân của Khôi chống cự không nổi. 1.831 người gồm cả già trẻ, gái trai đều bị chém chết (1) chông chung một chỗ, sau này gọi là “ đồng Mả Ngụy.(2)
    Riêng 6 người bị kết tội "chủ mưu" bị đóng cũi giải về Huế và nhận lãnh án lăng trì, trong đó có con trai của Lê Văn Khôi mới 7 tuổi, một linh mục người Pháp là Marchand, một người Hoa là Mạch Tấn Giai. (Theo A. Schneiner - ''Revue Indochinoise'' số 7-8 năm 1915, dẫn lại từ Việt Nam sử lược của Trần trọng Kim).(3)

    III.Nhận xét:
    Cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi là cuộc nổi dậy không thành công to lớn nhất của Nam Kỳ. Nó quy tụ được nhiều thành phần của Sài Gòn đương thời. Họ bất mãn với sự thay đổi chính sách thống trị của Minh Mạng ngay sau khi Lê Văn Duyệt chết. Họ cùng bị bách hại, kết tội, bóc lột bởi nhóm quan lại mới đến.
    Nhưng họ chỉ biết kết hợp chống đối, mà thiếu hẳn một đường lối để tạo thành một sức mạnh gắn bó, cuốn hút được những người còn ở xa.

    Chỉ nội cái việc Lê Văn Khôi tức tốc cầu viện quân Xiêm đã đủ cho nhân dân lục tỉnh phản đối rồi, nên suốt thời gian bị bao vây, không có một cuộc nổi dậy nào của dân ở các tỉnh, nhằm chia sẻ lực lượng quân triều. Điều đó đã nói lên mức độ bị cô lập của một cuộc binh biến… (Theo ''Địa chí văn hóa TP. HCM'', phần lịch sử, sách đã dẫn.)

    Và cuộc binh biến này, thực chất chỉ là một cuộc ''đảo chính quân sự của một tầng lớp thống trị địa phương, nhằm chống lại nhà nước phong kiến trung ương, chứ không phải là cuộc khởi nghĩa của nhân dân, mặc dù nó đã lôi cuốn được nhiều thành phần, như: giáo dân Thiên chúa, một số Hoa kiều, một số dân tộc ít người vùng Tây Ninh, binh lính quê ở miền Bắc, miền Trung, một số địa chủ, dòng dõi công thần và một số quan lại dưới quyền Lê Văn Duyệt...Nhưng cuộc binh biến chưa có biểu hiện nào cho thấy nó đã nổ ra vì nguyện vọng và vì lợi ích của đông đảo các tầng lớp nhân dân...''(Theo ''Sài Gòn - TP. HCM'' do TS. Quách Thu Nguyệt chủ biên (NXB Trẻ, 2006, tr. 100)

    Bùi Thụy Đào Nguyên, biên soạn

    Chú thích:
    (1) Ghi theo Trần Trọng Kim (sách đã dẫn), Nguyễn Quang Thắng (Từ điền nhân vật lịch sử Viêt Nam). Riêng sách Hỏi đáp lịch sử Việt Nam ghi 1.737 người (NXB Trẻ, 2007). Nguyển Phan Quang (sách đã dẫn) cho biết căn cứ vào những bản mật tấu thì con số bị bắt giết là 1.284 người. Phần quân triều đình, con số bị thương hơn ngàn và bị chết trong công cuộc đánh dẹp là 2431 người.

    Và Mả Ngụy ở gần Mô súng, khoảng gần Ngã Sáu, đường Cách mạng tháng 8, đầu đường 3 tháng 2.(Theo Địa chí văn hóa TP. HCM'', phần lịch sử, Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình cùng chủ biên, xuất bản năm 1987).

    (

    Nhắn tin cho tác giả
    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 11:00 04/04/2010
    Số lượt xem: 2282
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến