Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    Anh_Van_Giao_Tiep_Cho_Nguoi_Hoan_Toan_Mat_Goc___Ruby_Thao_Tran.flv NoiNayCoAnhSonTungMTP4772041.mp3 Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf

    Thành viên trực tuyến

    48 khách và 1 thành viên
  • Trần Khanh
  • Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Truyền thống dân tộc >

    SINH HOẠT CHỦ ĐIỂM:7-2-1418 : Kỷ niệm khởi nghĩa Lam Sơn

    KHỞI NGHĨA LAM SƠN: 

    lam_son_500 

    lam_sn_500 

    Lược đồ khởi nghĩa Lam Sơn

     

    1. Những phong trào đấu tranh trước khởi nghĩa Lam Sơn

    Mặc dù nhà Minh sau khi diệt nhà Hồ, tuyên bố là "con cháu họ Trần không còn ai nữa" nhưng trên thực tế, các tôn thất nhà Trần vẫn tìm cách tập hợp lại, nổi lên chống ách đô hộ của quân Minh. Tiêu biểu là hai cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng, sử cũ gọi là "nhà Hậu Trần".

       -Trần Ngỗi (còn gọi là Trần Quỹ) là con thứ vua Trần Nghệ Tông, năm 1407, nổi lên khởi nghĩa ở Yên Mô (Ninh Bình) được suy tôn là Giản Định Đế. Đông đảo dân chúng và các quý tộc Đại Việt cũ đã hưởng ứng đi theo, trong đó có những tướng giỏi như Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Sau khi giải phóng vùng đất Thanh - Nghệ rộng lơn, nghĩa quân tiên ra Bắc, đại thắng quân Minh trong trận Bô Cô (Ý Yên, Nam Định tháng 12-1408) diệt 10 vạn địch. Tướng giặc Mộc Thạnh phải chạy trốn về thành Cổ Lộng. Uy thế khởi nghĩa tăng lên nhanh chóng.

    Tuy nhiên, khởi nghĩa không duy trì được lâu. Ngay sau đó, nội bộ các tướng lĩnh bị chia rẽ nghiêm trọng. Các tướng Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân đã bị sát hại (1409), lực lượng nghĩa quân suy yếu. Trương Phụ và Mộc Thành tập trung tấn công, nghĩa quân phải lui về Nghệ An, sau đó Trần Ngỗi bị bắt. Lực lượng còn lại sáp nhập vào khởi nghĩa của Trần Quý Khoáng.

       -Trần Quý Khoáng là cháu Trần Nghệ Tông tiếp tục khởi nghĩa (1409), xưng là Trùng Quang Đế, được đông đảo nhân dân ủng hộ. Các con của Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị cũng theo về. Nghĩa quân kiểm soát được vùng Thanh- Nghệ và Thuận- Quảng, có lần tiến ra tới Bình Than (Hải Dương). Viện binh địch của Trương Phụ tăng cường đàn áp, Nguyễn Biểu nêu gương bất khuất, anh dũng hy sinh (1413). Sau đó, nghĩa quân đã thất bại ở Ái Tử (Quảng Trị). khởi nghĩa tan rã. Các lãnh tụ đều bị bắt và bị giết. Những cuộc khởi nghĩa chống Minh của nhà Hậu Trần thất bại, vì nó đã diễn ra lẻ tẻ, rời rạc, thiếu phối hợp và thiếu đoàn kết. Nó đánh dấu sự suy tàn và bất lực của tầng lớp quý tộc họ Trần trước những đòi hỏi mới của lịch sử.

    Cũng trong thời thuộc Minh, đã có nhiều hình thức đấu tranh khác chống lại ách đô hộ. Đông đảo giới sĩ phu đã có thái độ phản kháng, bất hợp tác với địch. Lúc đó, đã có câu truyền miệng : “Muốn sống ẩn vào rừng núi, muốn chết làm quan triều Minh". Nguyễn Phi Khanh khảng khái dặn Nguyễn Trãi báo đền nợ nước. Lê Cảnh Tuân viết "Vạn ngôn thư” gửi Thổ quan Bùi Bá Kỳ, khuyên nên tỉnh ngộ, rời bỏ hàng ngũ giặc. Quân Minh đã nhận xét về tầng lớp ngụy quan : “ Đầu mục ở Giao Chỉ có kẻ hàng rồi lại phản,ăn ở hai lòng... ".

    Ở miền núi thuộc Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Nghệ An có phong trào "nghĩa quân áo đỏ" của các tộc người thiểu số chống lại giặc Minh, kéo dài trong nhiều năm. Ngoài ra, có phong trào nổi dậy ở các miền biển như Hải Phòng, Đồ Sơn, Quảng Ninh với Lê Ngã (nguồn gốc gia nô) hay Phạm Ngọc (xuất thân nhà sư). Giặc Minh thú nhận "Người Giao Chỉ- giặc cướp nổi lên như ong, mỗi khi nghe giặc nổi lên là cùng nhau hưởng ứng…tan rồi lại hợp”.

    Phong trào đấu tranh chống Minh với nhiều hình thức là một phong trào quần chúng , đông đảo rộng kháp, đã phối hợp và dọn đường cho khởi nghĩa Lam Sơn.

    2. Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, xây dựng và bảo vệ căn cư địa vùng rừng núi Thanh Hóa (1418 - 1423)

    Lam Sơn - nơi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa có tên Nôm là làng Cham, nằm bên tả ngạn sông Chu (thuộc Thọ Xuân, Thanh Hoá). Về địa thế, đó là nơi giao tiếp giữa đồng bằng và miền núi, thuận lợi cho khi lực lượng còn non yếu, có thể thủ hiểm chống vây quét. Nhưng một khi lực lượng đã lớn mạnh, có thể từ đó tiến xuống làm chủ những vùng đất rộng, người đông. Về cư dân, ở đây đã tập hợp và đoàn kết nhiều tộc người. Nhiều tướng lĩnh Lam Sơn có nguồn gốc từ những tộc người thiểu số khác nhau như Mường (Lê Lai , Lê Hiến, Lê Hưu), Thái (Lê Cố, Xa Khả Sâm, Cầm Quý) hoặc Tày (Lý Huề ).

    Linh hồn của cuộc khởi nghĩa là hai lãnh tụ xuất sắc: Lê Lợi và Nguyễn Trái. Lê Lợi là một hào trưởng thuộc giai tầng xã hội mới (địa chủ bình dân) có uy tín và thế lực lên, tính hào phóng và quyết đoán, đã tập hợp được những gia nhân và nông dân trong vùng. Nguyễn Trãi là người tài đức song toàn, có nguồn gốc vừa quý tộc vừa bình dân, lại có tri thức cao (đỗ Thái học sinh thời Hồ) vừa có thực tiễn cuộc sống (đã trải qua các triều Trần, Hồ và thời thuộc Minh). ông là người nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, thân dân và chiến thuật “tâm công" (đánh vào lòng 'người). Các lãnh tụ Lam Sơn đã biết sử dụng những yếu tố thuận lợi mang tính tổng hợp (thiên thời, địa lợi, nhân hòa) để tiến hành khởi nghĩa.

    Năm 1416, Lê Lợi và 18 người dã tổ chức Hội thề Lũng Nhai (làng Mé,cách Lam Sơn 10km), nêu cao quyết tâm đoàn kết diệt giặc, đặt cơ sở cho sự hình thành lực lượng nòng cốt lãnh đạo khởi nghĩa. Đầu năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, tự xưng là Bình Định Vương, truyền hịch kêu gọi nhân dân đứng lên cứu nước. Lúc này, lực lượng quân sĩ còn rất ít, lại thiếu thốn lương thảo :

    “ Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần
    Lúc Khôi Huyện quân không một đội “
    (Bình Ngô đại cáo)

    Ngay sau khi nổ ra khởi nghĩa, nghĩa quân phải liên tiếp chống lại 3 lần quân địch vây quét ở núi Chí Linh. Trong gian khổ, có nhiều gương chiến đấu hy sinh dũng cảm, điển hình là việc "Lê Lai liều mình cứu Chúa”.

    Lợi dụng khó khăn của nhà Minh và để bảo toàn lực lượng về quân sự và chính trị, Lê Lợi đã tìm cách tạm hòa hoãn với địch trong hơn 1 năm (1423-1424). Kết quả của kế sách này đã giữ vững được căn cứ địa, chặn đứng âm mưu tiêu diệt khởi nghĩa của quân địch, chuẩn bị đón chờ thời cơ mới.

    3. Tiến quân vào Nghệ An, mở rộng vùng giải phóng Tân Bình - Thuận Hóa (1424 - 1425)

    Vượt qua thời kỳ củng cố căn cứ địa, năm 1424 nghĩa quân chuyển sang giai đoạn phát triển. Đó là kế hoạch tiến xuống vùng đồng bằng Nghệ An của Nguyễn Chích. ông nói :"Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng người đông, tôi đã từng qua lại nên rất thông thuộc đường đất. Nay ta trước hãy đánh lấy Trà Long (huyện lỵ : Trà Lân), chiếm giữ cho được Nghệ An làm chỗ dừng chân, rồi dựa vào nhân lực, tài lực đất ấy mà quay ra đánh Đông Đô thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ".

    Theo đúng kế hoạch, tháng 10 - 1424, nghĩa quân đã tiến công thành Trà Lân (Tương Dương, Con Cuông, Nghệ An), do nguỵ quan Cầm Bành với hơn 1000 quân đóng giữ. Sau 2 tháng bị bao vây, Cầm Bành phải đầu hàng. Chiếm thành Trà Lân, nghĩa quân đã khai thông và kiểm soát được con đường từ miền núi xuống vùng đồng bằng.

    Sau khi diệt địch trong trận phục kích ở ải Khả Lưu- Bồ ái, nghĩa quân tiến xuống giải phóng toàn bộ các châu huyện thuộc Nghệ An, đồng thời vây hãm chặt thành Nghệ An trong nhiều tháng. Thành này do tướng giặc Trần Tư và sau là Phương Chính trấn giữ. Nghĩa quân đập tan nhiều cuộc phản kích của quân Minh. Nguyễn Trãi đã nhiều lần gởi thư khiêu chiến Phương Chính, nhưng giặc vãn đóng chặt cửa thành cố thủ. Đồng thời, Lê Lợi cũng cho xây dựng một hệ thống thành lũy trên núi Thiên Nhẫn làm căn cứ chính của nghĩa quân, đặt tên là Lục Niên thành (để kỷ niệm 6 năm khởi nghĩa).

    Thừa lúc ghìm chặt quân địch ở đất Nghệ An, năm 1425, Lê Lợi cử Đinh Lễ tấn công ra phía bắc, vây hãm thành Diễn Châu, Tây Đô, tạo được vùng giải phóng rộng lớn, dồi dào sức người sức của, cắt đôi vùng chiếm đóng của địch thành hai nơi cách xa nhau, tạo điều kiện cho ta tiêu diệt.

    Tiếp theo, Trần Nguyên Hãn, Lê Ngân cũng được cử vào giải phóng miền đất Tân Bình - Thuận Hóa (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế) là nơi lực lượng địch tương đối yếu và sơ hở. Trong chiến dịch này,

    4. Tổng tấn công ra Bắc, giải phóng hoàn toàn đất nước (1426 - 1427)

    Cho tới năm 1426, sau 8 năm chiến đấu, lực lượng nghĩa quân Lam Sơn đã tăng lên hàng vạn, có cả quân bộ lẫn quân thủy, tạo nên bước nhảy vọt về chất. Trong điều kiện đó, Lê Lợi quyết định tổng tấn công ra Bắc, tiến tới giải phóng hoàn toàn đất nước.

    Tháng 9-1426, khoảng gần 10.000 nghĩa quân từ Thanh Hóa đã tiến ra Bắc theo 3 đạo :

    - Đạo phía tây, do Phạm Văn Xảo và Lý Triện chỉ huy, tiến đánh miền Tây Bắc, chặn viện binh từ Vân Nam sang.

    - Đạo phía đông, do Bùi Bị, Lưu Nhân Chú chỉ huy, tiến ra miền đồng bằng Bắc Bộ và vùng Đông Bắc, chặn viện binh từ Quảng Tây sang.

    - Đạo chính giữa, do Đinh Lễ và Nguyễn Xí chỉ huy, tiến thẳng ra phía nam thành Đông Quan, uy hiếp vây hãm thành.

    Nhiệm vụ của các cánh quân này chưa phải là tiêu diệt ngay toàn bộ sinh lực địch, mà là giải phóng đất đai, giành thêm dân, bao vây uy hiếp thành, chặn viện binh địch.

      luoc_do_nghia_quan_lam_son_tien_quan_ra_bac_500

    Lược đồ đường tiến quân ra Bắc của nghĩa quân Lam Sơn

    Cùng với nghĩa quân, một phong trào nổi dậy hưởng ứng của quần chúng nhân dân đã lan rộng khắp mọi nơi, với nhiều hình thức : gia nhập nghĩa quân, ủng hộ tiếp tế lương thực thực phẩm, phối hợp đánh giặc, trong đó đã nổi lên những tấm gương dũng cảm như bà hàng nước Lương Thị Minh Nguyệt thành Cổ Lọng (Ý Yên, Nam Định), cô gái họ Đào Ở Hưng Yên ...

    Cùng thời gian đó, nghĩa quân đã tăng cường uy hiếp, vây hãm thành Đông Quan, trong đó có chủ lực và cơ quan đầu não của địch. Bị thất bại trong những cố gắng phản kích ở Ninh Kiều (Chương Mỹ, Hà Tây) và Nhân Mục (Thanh Trì, Hà Nội), quân Minh chủ trương cố thủ trong thành, chờ quân cứu viện.

    Tháng 10 - 1426, địch đã cho rút đại bộ phận quân sĩ từ thành Nghệ An về tăng cường cho Đông Quan. Tiếp đó, tháng 11 , 5 vạn viện binh từ Trung Quốc, do Vương Thông làm Tổng chỉ huy, cùng kẻo đến Đông Quan, đưa tổng số quân địch lên hơn 10 vạn.

    Với lực lượng khá hùng hậu đó, Vương Thông quyết định mở đợt phản kích, đánh nống ra phía tây thành Đông Quan để giải vây, giành lại quyền chủ động. âm mưu của địch là qua Cầu Giấy, tiến lên Yên Sở, rồi theo sông Đáy xuống Ninh Kiêu, nhằm tấn công căn cứ nghĩa quân ở Cao Bộ,thừa thế tiến đánh thăng vào Thanh Hoá.

    Trước tình hình đó, hai cánh quân của Lý Triện và Đinh Lễ đã phối hợp hành quân mai phục tiêu diệt địch. Các đơn vị phục binh được bố trí ở Tốt Động (nơi cánh đồng chiêm, sâu, lầy lội) và Chúc Động (vùng ven chân núi, hiểm trở). Lợi dụng trời mua. người ngựa địch bị sa lầy, quân ta đã đổ ra tiên đánh, tiêu diệt hơn 5 vạn quân địch, bắt sống hơn 1 vạn, chủ tướng Vương Thông bị thương. Sử cũ ghi “dòng sông Ninh Kiều dã tắc nghẽn vì xác địch". Chiến thắng Tốt Động- Chúc Động đã đập tan âm mưu phản kích của địch, đẩy địch lún sâu vào thế bị động, xiết chặt hơn nữa vòng vây thành Đông Quan. Lúc này, Lê Lợi từ Thanh Hóa đã tiên ra vùng Đông Quan, đóng đại bản doanh ở Bồ Đề (Gia Lâm), bên kia sông Nhị. Ông cho dựng một lầu cao, ngang tầm tháp Báo Thiên, để .thường xuyên theo dõi tình hình địch trong nội thành Đông Quan.

    Song song với việc tiếp tục vây hãm thành, Lê Lợi- Nguyễn Trãi đã thực hiện chiến thuật "tâm công". kết hợp đấu tranh ngoại giao, chính trị, binh vận với đấu tranh quân sự. Để tạo điều kiện hòa đàm thương lượng, Lê Lợi đã lập Trần Cảo - một người tự xưng là con cháu vua Trần - lên làm vua trên danh nghĩa. Nguyễn Trãi cũng viết nhiều thư dụ hàng gửi Vương Thông, nói rõ sáu điều tất thua, khuyên nên giảng hòa rút quân, làm suy sụp ý chí, tinh thần của địch, trước khi quyết chiến.

    Trận quyết đấu cuối cùng đi đến giải phóng hoàn toàn đất nước đã diễn ra với chiến tháng Chi Lăng - Xương Giang diệt viện binh địch.

    Tháng 10 - 1427, Liễu Thăng (viên tướng đã chỉ huy thủy binh triệt Hồ Quý Ly) đem 10 vạn viện binh theo đường Lạng Sơn tiến vào Đại Việt.Cùng lúc, đạo quân Mộc Thạnh tiến theo đường Vân Nam. Khi qua ải Chi Lăng (Lạng Sơn) - nơi đã được mệnh danh là yết hầu của Giao Chỉ với địa điểm hiểm yếu nổi tiếng Quỷ Môn quan- Liễu Thăng đã bị nghĩa quân do Lưu Nhân Chú, Trần Lựu chỉ huy dùng mưu trá hàng nhử địch sa vào trận địa phục kích, giết chết bên sườn núi Mã Yên. Hàng vạn quân địch bị tiêu diệt. Tiếp theo, ta còn tấn công trên tiếp ở các trận Cần Trạm, Phố Cát. Binh bộ thượng thư Lý Khánh phải tự tử.

    Sau khi đại bại, quân Minh tháo chạy về co cụm tại Xương Giang (Bắc Giang). Thôi Tụ phải đắp thành lũy giữa đồng để phòng ngự. Lê Lợi và Trần Nguyên Hãn điều binh xiết chặt vòng vây, tổng tấn công Xương Giang, diệt 5 vạn, bắt sống 3 vạn địch, trong số đó có các tướng Thôi Tụ, Hoàng Phúc. Sử Trung Quốc ghi nhận “chỉ có một viên chủ sự là trốn thoát được về nước . Được tin Liễu Thăng chết, đạo viện binh của Mộc Thạnhcũng hết hoảng rút lui. Chiến thắng Chi Lăng- Xương Giang đã chôn vùi những hy vọng cuối cùng của quân Minh.

    Không có viện binh, quân Minh càng khốn đốn ở Đông Quan, tinh thần nao núng, suy sụp nhanh chóng. Lê Lợi nhận định:"Viện binh bị phá, thì thành tất phải hàng". Cuối năm 1427, Vương Thông buộc phải xin hòa, thỏa thuận rút quân không chờ viện binh, cam kết trong Bài văn hội thề đọc tại một địa điểm phía nam thành Đông Quan. Lê Lợi hứa cung cấp lương thực, thuyền bè, sửa chữa cầu đường, tạo điều kiện cho quân Minh nhanh chóng rút về nước.

    Chiến tranh kết thúc, Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi nhân danh Lê lợi soạn thảo được công bố. Đó là bài ca khải hoàn, bản tổng kết chiến tranh, bản tuyên ngôn độc lập, trong đó, đã khẳng định chủ quyền dân tộc Việt như một quốc gia lịch sử - văn hoá.

    “Nước Đại Việt ta từ trước
    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
    Núi sông bờ cõi đã phân
    Phong tục Bắc, Nam cũng khác".

    Sau khi tố cáo tội ác của giặc và tổng kết quá trình cuộc khởi nghĩa- kháng chiến, bài cáo nêu lên những đường lối chiến tranh cơ bản, cũng là những nguyên nhân thắng lợi. Đó là tư tưởng nhân nghĩa được quán triệt trong toàn bộ cuộc chiến.

    “ Lấy đại nghĩa thắng hung tàn
    Đem chí nhân thay cường bạo".
    Tư tưởng toàn dân đoàn kết:
    "Tụ tập khắp bốn phương dân chúng
    Dư trên đều một bụng cha con".

    cũng như chiến thuật của một cuộc chiến tranh có tính chất nhân dân:

    “ Lấy ít địch nhiều, thường dùng mai phục
    Lấy yếu chống mạnh, hay đánh bất ngờ “.

    Ngày 29 tháng 4 năm 1428 (năm Mậu Thân), Lê Lợi chính thức lên ngôi Hoàng đế (tức Lê Thái Tổ), lập ra triều Lê (Hậu Lê), đặt Quốc hiệu là Đại Việt.

     

    Khởi nghĩa Lam sơn (1418-1427)


    1/ Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Hội thề Lũng Nhai và công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa.


    * Vài nét về Hội thề Lũng Nhai:
    Cuối thế kỉ XIV, nhà Trần suy vong. Bằng một cuộc cải cách lớn, Tể tướng Hồ Quý Ly mong cứu vãn tình thế để có đủ lực lượng chống lại sự đe doạ xâm lược của nhà Minh. Đầu thế kỉ XV, do không đoàn kết được nhân dân, nhà Hồ chịu thất bại trước cuộc xâm lược của nhà Minh. Năm 1407, Đại Việt lại rơi vào ách đô hộ nghiệt ngã, tàn bạo. Hàng loạt cuộc khởi nghĩa đã bùng lên ở miền xuôi cũng như miền ngược, nhưng đều bị đàn áp.
    Năm 1416, tại Lũng Nhai, một địa điểm gần Lam sơn, Lê lợi cùng 18 người bạn chiến đấu thân cận nhất làm lễ thề kết nghĩa anh em, nguyện một lòng đánh giặc cứu nước. Trong lễ thề có ý nghĩa thiêng liêng đó 19 người anh hùng đầu tiên của khởi nghĩa Lam sơn đã chích máu ăn thề với lời thề có đoạn sau :“Nay ở nước chúng tôi, phụ đạo chính là Lê Lợi cùng với bọn là Lê Lai đến trương chiến, mười tám người, họ hàng quê quán tuy khác nhau, nhưng kết nghĩa thân nhau như cùng một tổ liền cành, phận giàu sang dù khác nhau, nhưng nguyện coi tình như chung một họ không khác.Nay giặc Ngô xâm chiếm, lùng nhà Trần, bắt họ Hồ, qua cửa quan mà làm hại, nên Lê Lợi cùng với bọn Lê Lai trương chiến, mười tám người chung sức đồng lòng, giữ gìn đất nước để trong cõi được sống yên lành, nguyện sống chết có nhau không quên lời thề sắt son”.
    Hội thề Lũng Nhai đặt cơ sở cho sự hình thành hạt nhân đầu tiên của bộ tham mưu khởi nghĩa.
    Sau Hội thề Lũng Nhai, công việc chuẩn bị khởi nghĩa được tiến hành một cách khẩn trương. Lam sơn trở thành nơi qui tụ nghĩa của anh hùng hào kiệt bốn phương, của những người yêu nước khắp nơi tìm về cùng mưu đồ sự nghiệp cứu nước. Tất cả những người yêu nước ấy, khác nhau về thành phần xã hội và dân tộc, về quê quán và cuộc sống, nhưng đều cùng một mối thù không đợi trời chung với quân giặc và cùng một lí tưởng quyết tâm đánh đuổi giặc cứu nước.


    2/ Khởi nghĩa Lam sơn.
    Ngày 7/2/1418, vào dịp tết cổ truyền của dân tộc, tại Lam sơn, Lê Lợi cùng toàn thể nghĩa quân làm lễ tế cờ khởi nghĩa, mở đầu cuộc đấu tranh vũ trang chống quân Minh. Lê Lợi tự xưng là Bình Định Vương, truyền hịch kêu gợi nhân dân nổi dậy cứu nước.


    Trong hơn năm đầu khởi nghĩa do chênh lệch về mặt số lượng, những cuộc vây quét lớn của địch đã gây cho nghĩa quân nhiều tổn thất lớn, nghĩa quân phải hai lần rút lên núi Chí Linh _ngọn núi cao, hiểm yếu bậc nhất ở thượng du sông Chu để vượt qua khó khăn. Lần thứ hai rút quân lên núi Chí Linh (5/1419) quân địch đuổi theo bổ vây bốn mặt, quyết tiêu diệt cuộc khởi nghĩa. Trong tình thế hiểm nghèo đó, Lê Lai đã tự nguyện cải trang làm Lê Lợi, dẫn 500 quân ra phá vòng vây để đánh lừa quân địch. Lê Lai và đội quân cảm tử hi sinh anh dũng để cứu Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa khỏi tai hoạ nguy hiểm.


    Có thể nói, khởi nghĩa Lam sơn lúc đầu chưa đủ khả năng thống nhất tổ chức và lãnh đạo phong trào cả nước. Nhưng so với các cuộc khởi nghĩa khác, khởi nghĩa Lam sơn đã biểu thị rõ tính ngoan cường, bền bỉ, dẻo dai của nó và đang có xu hướng mở rộng ảnh hưởng ra các nơi điều đó biểu hiện : Tại Thanh Hoá, Nguyễn Chích đã hưởng ứng đem toàn bộ lực lượng gia nhập cuộc khởi nghĩa do Lê Lợi - Nguyễn Trãi lãnh đạo; một số người yêu nước tìm đến Lam sơn đã được Lê Lợi giao nhiệm vụ trở về quê hương gây dựng cơ sở, chuẩn bị lực lượng…


    Giữa năm 1419, khi quân Minh lập đồn Khả Lam nhằm giam hãm nghĩa quân, nghĩa quân đã chuyển hoạt động lên Mường Thôi (tây bắc Thanh Hoá, giáp Lào). Tại đây nghĩa quân được người Lào giúp đỡ về lương thực, vũ khí, voi, ngựa, thắt chặt mối quan hệ đoàn kết Việt -Lào.


    11/1420, tổng binh Lí Bân điều động quân tiến công lên mường Thôi, chúng chia thành từng bộ phận. Nghĩa quân bố trí mai phục tên đường tiến công của địch, đánh thắng ba trận lớn : Bến Bổng, Bồ Mộng và Thi Lang, bẻ gãy cuộc tiến công lớn của chúng.


    Đầu 1423, quân Minh lại mở cuộc tiến công mới, Lê Lợi và nghĩa quân phải tạm rút ra huyện Khôi (Nho Quan, Ninh Bình) để tránh thế vây hãm của địch. Quân Minh dốc toàn bộ lực lượng đuổi theo rất gấp và từ bốn mặt bao vây nghĩa quân. Nhận định tình hình nghĩa quân lúc ấy, Lê Lợi nói “Quân giặc bốn mặt bao vây … Đây chính là nơi mà binh pháp gọi là “đất chết”, đánh nhanh thì còn, không đánh thì chết” (Đại Việt sử kí toàn thư). Nghĩa quân đã giành được thắng lợi oanh liệt, giết chết tướng giặc là Phùng Quý và hơn 1.000 tên. Nhưng lực lượng của nghĩa quân cũng hi sinh nhiều. Lê Lợi quyết định đưa nghĩa quân trở về núi Chí Linh lần ba để củng cố lực lượng.


    Ở Trung Quốc đang gặp nhiều khó khăn : chiến tranh với Mông Cổ, vua Minh Thành Tổ chết, Minh Nhân Tông lên thay (1424 – 1425) muốn tạm thời hoà hoãn tình hình ở Giao Chỉ. Vua Minh lệnh cho Trần Trí (thay Lí Bân) phải tìm cách “chiêu dụ” Lê Lợi.


    Trong tình hình đó, công cuộc đàm phán để tạm thời đình chiến với địch đã nhanh chóng đạt kết quả. Từ đay cuộc khởi nghĩa chuyển sang một hình thức đấu tranh mới, vừa tranh thủ thời gian hoà hoãn để xây dưng lực lượng vừa tiến hành đấu tranh chính trị và ngoại giao làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch.


    *Phương hướng chiến lược của Nguyễn Chích : Tiến vào Nghệ An:


    Trước khi bước vào giai đoạn đấu tranh mới, một vấn đề đặt ra cho những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam sơn, như Lê Lợi đã nói “Chúng ta sẽ đi về đâu để lo việc nước ?”. điều đó có nghĩa là phải tìm ra một phương hướng chiến lược mới tạo nên bước phát triển vượt bậc của cuộc khởi nghĩa. Nguyễn Chích nói “Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng người đông, tôi đã từng qua lại nên rất thông thuộc đất ấy. Nay hãy trước hết thu lấy Trà Long, chiếm giữ cho được Nghệ An để làm đất đứng chân, rồi dựa vào sức người và của cải ở đất ấy mà quay ra đánh Đông Đô thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ”. Điều quan trọng là ở Nghệ An, nhân dân có truyền thống quật cường và lực lượng của địch lại yếu. Chính quyền đô hộ nhà Minh ở đây mới được xây dựng (năm 1414), chưa được củng cố và luôn bị uy hiếp bởi những cuộc khởi nghĩa của nhân dân, của một số quan lại và binh sĩ yêu nước, trong hàng ngũ thổ quan, thổ binh. Thành Nghệ An khá kiên cố, nhưng lực lượng của địch không tập trung nhiều như ở Thanh Hoá. Hơn nữa, trong sự bố trí lực lượng của địch, Nghệ An về mặt Bắc lại xa sào huyệt như Đông Quan, Tây Đô, và về mặt nam, lực lượng địch ở Tân Bình, Thuận Hoá rất mỏng.


    Từ Lam sơn, Nghĩa quân bất ngờ tập kích đồn Đa Căng mở đường tiến vào giải phóng Nghệ An. Trận ra quân thắng lợi không những có tác dụng mở đường mà còn náo nức lòng nghĩa quân, nâng cao niềm tin tưởng vào phương hướng chiến lược mới của cuộc khởi nghĩa.


    Nghĩa quân theo đường “thượng đạo” tiến vào Nghệ An mục tiêu trước tiên là hạ thành Trà Lân. Quân Minh bất ngờ và vội vàng đối phó một cách bị động. Trận Trà Lân, chủ trương của nghĩa quân “nếu thuận theo thì vỗ về, nếu chống lại thì đánh lấy” do đó nghĩa quân vừa vây hãm vừa dụ Cầm bành đầu hàng. vận dụng lối đánh kết hợp tiến công quân sự với dụ hàng và thương lượng. Trận thắng thể hiện một bước lớn mạnh về lực lượng và một bước phát triển về nghệ thuật quân sự của nghĩa quân.

    lam_sn_500 

    Lược đồ khởi nghĩa Lam Sơn

     


    Sau khi chiếm Trà Lân. Lê Lợi đã dẫn đại quân theo sông Lam, tiến xuống đóng ở Khả Lưu_một cửa ải hiểm yếu dùng để hống chế con đường tiến quân của địch. Tại Khả Lưu, nghĩa quân làm kế nghi binh “ban ngày thì phất cờ gióng trống, ban đêm thì đốt lửa”. Trong lúc đó, nghĩa quân đã bố trí một trận địa mai phục ở phía sau Khả Lưu và một cánh quân tinh nhuệ bí mật vượt sông, giấu quân ở bã sở phía dưới doanh trại địch ở Phá Lũ.
    Tướng địch, Trần Trí đốc thúc đại quân vượt sông đánh vào Khả Lưu. Quân ta rút lui nhử địch vào trận mai phục rồi bất ngờ tung quân ra đánh. Cùng lúc đó, cánh quân ở Bãi sở đánh úp vào doanh trại địch ở Phá Lũ. Quân Minh bị tổn thất nặng nề.


    Tuy nhiên, quân địch đông nên Trần Trí vẫn củng cố doanh trại, đắp thêm chiến luỹ phòng vệ, để làm kế ngăn chặn lâu dài. Nghĩa quân lại dùng mưu điều địch ra khỏi doanh trại để đánh bằng lối đánh mai phục sở trường của mình. Lê Lợi ra lệnh đốt phá doanh trại Khả Lưu về bố trí mai phục ở Bồ Ải rồi khiêu chiến nhử địch lọt vào cảm bẫy. Chiến thắng ở Khả Lưu - Bồ Ải, nghĩa quân đã đập tan được một cuộc phản công lớn của quân Minh, tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực của địch và đẩy chúng vào thế phòng ngự bị động.


    Những chiến thắng liên tiếp của nghĩa quân ở Bồ Đằng, Trà Lân, Khả Lưu - Bồ Ải làm cho bộ máy chính quyền của địch ở các châu, huyện bị rung chuyển mạnh mẽ. Quân địch hoang mang khiếp sợ. Nghĩa quân thừa thắng, toả về các nơi cùng với nhân dân nhanh chóng lật đổ ách thống trị của địch, giải phóng các châu huyện vây hãm thành Nghệ An.
    Khởi nghĩa Lam sơn đã trở thành nơi qui tụ của nhiều cuộc khởi nghĩa và nhiều lực lượng yêu nước. Hiện tượng đó đã có ở Thanh Hoá với sự tham gia của Nguyễn Chích, nay trở thành hiện tượng phổ biến và tiêu biểu cho một xu thế phát triển quan trọng của cuộc khởi nghĩa khi chuyển hướng vào Nghệ An : Khi nghĩa quân tiến vào Nghệ An, vùng này đang có các cuộc khởi nghĩa của Phan Liêu và Lộ Văn Luật, Nguyễn Vĩnh lộc, Nguyễn Biên. Những người lãnh đạo này đều tự nguyện gia nhập quân của mình vào nghĩa quân Lam sơn. Tại miền núi, các dân tộc ít người cùng với các tù trưởng cuả họ, đều hăng hái tham gia khởi nghĩa, Lê Lợi đã “vỗ về yên ủi các bộ lạc, khen thưởng các tù trưởng”. Như vậy Nghệ An đã trở thành một căn cứ địa cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

    *Mở rộng khu giải phóng:


    Tháng 6 năm 1425, tướng Đinh Lễ được lệnh giải phóng phủ Diễn Châu, được nhân dân vùng này ủng hộ nhanh chóng đánh ổ từng mảng chính quyền của địch. Quân Minh phải co cụm về giữ thành Diễn Châu. Lúc này Trương Hùng đang đem 300 thuyền lương ứng cứu cho thành Diễn Châu nhưng bị Đinh Lễ bí mật đón đánh.
    Ngay sau đấy để một lực lượng ở lại vây hãm thành Diễn Châu, Đinh Lễ lấy thuền địch vượt biển đuổi theo Trương Hùng đến tận Thanh Hoá, Lê Lợi cũng lập tức phái Lý Triện đem quân tinh nhuệ theo đường núi ra Thanh Hoá tiếp ứng cho Đinh Lễ.
    Quân Minh ở Thanh Hoá đã phải điều một bộ phận quan trọng vào cứu viện cho Nghệ An. Lực lượng quân địch suy yếu hơn mấy năm trước nhiều. Hai cánh quân của Đinh Lễ và Lý Triện cùng phối hợp, đánh úp thành Tây Đô, quân Minh phải bỏ doanh trại ngoại vi rút hết vào trong thành cố thủ.


    Nghĩa quân vây hãm thành Tây Đô, rồi về các châu, huyện cùng nhân dân nhanh chóng giải phóng toàn phủ Thanh Hoá.


    Việc giải phóng Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hoá làm cho địch ở Tân Bình, Thuận Hoá hoàn toàn bị cô lập chia cắt. Với chủ trương “bỏ chỗ mạnh đánh chỗ yếu, tránh chỗ vững đánh chỗ núng, thì dùng sức một nửa mà thành công gấp bội”. nghĩa quân gấp rút tiến vào giải phóng hai phủ phía nam.


    Tháng 8/1425, Lê Lợi phái các tướng Trần Nguyên Hãn, Lê Nỗ… bằng hai đường thuỷ bộ tiến vào giải phóng Tân Bình, Thuận Hoá. Nghĩa quân nhanh chóng đập tan sức kháng cự yếu ớt của địch, vây hãm hai thành Thuận Hoá, Tân Bình. Được nhân dân giúp đỡ nghĩa quân nhanh chóng giải phóng các châu, huyên.


    Như vậy, nghĩa quân đã giải phóng được một khu vực rộng lớn nối liền một giải từ Thanh Hoá vào đến đèo Hải Vân. Trên khu vực đó quân Minh chỉ còn giữ được hai thành luỹ đã bị cô lập hoàn toàn, tê liệt mọi hoạt động. Từ tháng 10/1424 đến 8/1425, khởi nghĩa Lam sơ đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược to lớn, làm thay đổi về cơ bản cục diện chiến tranh và so sánh lực lượng giữa ta và địch. Bước tiến nhảy vọt đó đang tạo ra thế và lực đưa chiến tranh cứu nước tiến lên giai đoạn toàn thắng.


    *Phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộc.


    Nhân lúc quân địch ở nước ta đang thế suy, lực yếu, mà viện binh của nhà Minh thì chưa kịp sang, Lê Lợi, Nguyễn Trãi và bộ chỉ huy nghĩa quân quyết định mở cuộc tiến quân ra Bắc. Nguyễn Trãi nói :”Thời cơ, thời cơ, thực không nên lỡ”. Mục đích của cuộc tiến quân này là nhằm tranh thủ một thời cơ có lợi, đưa cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc phát triển lên quy mô cả nước, giành những thắng lợi quyết định về quân sự và chính trị để chủ động đối phó với viện binh của địch.


    9/1426, ba đạo quân tiến quân ra Bắc theo ba hướng. cả 3 đạo quân chỉ có 10.000 quân và 3 voi chiến. thế mà nghĩa quân đã hoạt động trên một phạm vi rộng lớn bao gồm toàn bộ vùng đồng bằng, trung du và một phần thượng du các phủ huyện phía bắc (bắc bộ ngày nay). Nhiệm vụ của nghĩa quân không phải là chiến đấu một cách đơn độc, mà luồn sâu vào vùng chiếm đóng của địch, kết hợp với lực lượng yêu nước địa phương và sự nổi dậy của nhân dân nhằm chiếm giữ đất đai, chiêu phủ nhân dân, triệt đường binh viện của địch.


    Trước sức mạnh tấn công của nghĩa quân và nhân dân, “Người Minh chỉ ngồi lo giữ để chờ quân cứu viện mà thôi”.
    Khởi nghĩa Lam Sơn đã phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộc quy mô cả nước. Quân Minh đã suy yếu, lại bị dồn vào thế phòng ngự bị động trên cả nước. Những thắng lợi quan trọng đó đang tạo ra thế và lực mới để quân và dân ta tiến lên đương đầu với viện binh địch.


    *Chiến thắng Tốt động – Chúc động (11/1426).

    tran_tot_dong_-_chuc_dong_cuoi_nam_1426__500_01

    Diễn biến trận Tốt Động - Chúc Động


    Sau trận Ninh Kiều, Trần Trí đã cho người mang thư lẻn vào thành Nghệ An, yêu cầu Lý An và Phương Chính “bỏ thành nghệ An, về cứu căn bản (tức thành Đông Quan)”. Ngày 17/10/1426, chúng dùng thuyền, nhân lúc ban đêm, vượt biển ra băc.


    Lê Lợi nhận định “Thế giặc ngày một yếu, quân ta ngày một mạnh, thời cơ đã đến mà không hành động ngay, sợ lỡ mất cơ hội”. Thành Nghệ An không còn là mục tiêu quan trọng nữa, mặt trận chính rõ ràng là đã chuyển ra bắc (Đông Quan). Lê Lợi quyết định để lại một bộ phận nghĩa quân ở lại vây thành Nghệ An, rồi cùng với bộ chỉ huy theo hai đường thuỷ bộ tiến ra Đông Quan.


    Tại Đông Quan, Vương Thông giữ chức tổng binh nắm quyền cao nhất, huy động 10 vạn quân vào cuộc phản công. từ Đông Quan, quân địch chia làm 3 đạo tiến ra chiếm lĩnh những vị trí bàn đạp của cuộc phản công.
      +Đạo 1, do Vương Thông trực tiếp chỉ huy, đóng ở Cổ Sở trên sông Đáy và con đường từ phía tây đến Đông Quan.
      +Đạo 2, do Phương Chính, Lý An chỉ huy đóng ở cầu Sa Đôi trên sông Nhuệ.
      +Đạo 3, do Thọ Sơn, Mã Kì chỉ huy đóng ở cầu Thanh Oai.
    Với các vị trí đó, ba đạo quân Minh hình thành ba mũi tiến công nhằm vây quét một vùng rộng lớn, mà mục tiêu chính là căn cứ Ninh Kiều của quân ta do Phạm Văn Xảo và Lý Triện đang đóng quân.

     


    Còn phía ta, Đạo quân của Lý Triện đảm đương nhiệm vụ trận đầu tiên chống lại cuộc phản công của quân Minh. Ta cũng chọn đạo quân của địch đóng ở cầu Thanh Oai làm mục tiêu tấn công bởi đây là khâu yếu nhất trong ba mũi tấn công của địch. 5/ 11/1426, ta tấn công bằng cách mai phục, khiêu chiến nhanh chóng đẩy quân của Sơn Thọ, mã Kì về Quan Đông. Đạo quân của Phương Chính, Lý An thấy bị đe doạ cũng rút quân về Đông Quan để tránh đòn tấn công của quân ta.


    Tối 5/11, Vương Thông ra lệnh điều số bãi binh mới chạy về Đông Quan lên Cổ Sở và thay đổi kế hoạch hành quân: tập trung tất cả binh lực để từ Cổ Sở tấn công xuống Ninh Kiều.
    Ngày 6/11, một bộ phận quân của Lý Triện từ Ninh Kiều tiến lên tập kích doanh trại ngoại vi Cổ Sở nhằm quấy rối và tiêu hao và khiêu khích địch.


    Vương Thông liền huy động đại quân đánh xuống Ninh Kiều. nhưng đến nơi thì quân ta đã rút về Cao Bộ (Hà Tây). Tại đây Đạo quân thứ ba của Lam Sơn do Đinh Lễ, Nguyễn Xí chỉ huằnt Thanh Đàm (Thanh Trì, Hà Nội) cũng đã bí mật kéo quân đến hội quân để phối hợp đập tan cuộc phản công của Vương Thông.


    Từ Ninh Kiều lên Cao Bộ có 2 con đường:
       +Con đường cái từ Ninh Kiều qua Chúc Động, Tốt Động lên Cao Bộ.
       +Con đường tắt từ Ninh kiều qua Chúc Động vòng về phía bắc Cao Bộ.
    Vương Thông từ Ninh Kiều lên Cao Bộ nhất thiết phải qua nhưng con đường đó. Nghĩa quân khẩn trương bố trí hai trận địa mai phục lớn ở Tốt Động và Chúc Động.
    Từ Ninh Kiều, Vương Thông chia quân thành hai đạo theo 2 con đường trên tấn công lên Cao Bộ đã rơi vào cãm bẫy của ta.


    Chiến thắng Tốt Động – Chúc Động đã tiêu diệt 5 vạn quân địch và bắt sống một vạn.
    “Ninh Kiều máu chảy thành sông, hôi tanh muôn dặm.
    Tốt Động thây phơi đầy nội, thối để nghìn thu”.


    Mở đầu bằng trận Cổ Lãm và kết thúc bằng trận Tốt Động – Chúc Động, chỉ trong mấy ngày, quân Lam sơ kết hợp với lực lượng vũ trang của các làng xã và được nhân dân hết lòng ủng hộ, đã đánh bại hoàn toàn cuộc phản công của Vương Thông, đánh sập ý đồ của Vương Thông muốn xoay chuyển cục diện, giành lại thế chủ động chiến lược trên chiến trường.


    *Vây hãm thành quan đông và các thành luỹ khác:
    Bước phát triển sáng tạo trong giai đoạn từ sau chiến thắng TĐ-CĐ là sự kết hợp chặt chẽ giữa 3 mặt : QS, địch vận, ngoại giao.

    Những cuộc tiến công của quân ta đã dồn địch vào thế cực kì nguy ngập. Chính trong cảnh “Chí cùng lực tận”, Vương Thông phải “sai người đưa thư xin hoà, mong được toàn quân trở về nước”.


    Nhận được thư của Vương Thông, Lê Lợi nói “Lời ấy cố nhiên hợp ý ta, vả lại binh pháp nói: không đánh mà khuất được người, kế dùng binh như thế mới là giỏi”. từ đó, bắt đầu mở cuộc đấu tranh hoà nghị với địch. Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi, đảm đương cuộc đấu tranh này.
    Sau một thời gian thương lượng, hai bên đu đến một số kết quả bước đầu. Vương Thông cam kết rút hết quân về nước. quân địch sẽ được giải vây, tập trung về Đông Quan để về nước. quân ta đảm bảo các điều kiện an toàn cho chúng rút lui.


    Thái độ của mỗi bên:
      +Ta: Nghị hoà thành, chiến tranh kết thúc, đều có lợi cho cả nhân dân cả hai nước :”không những sinh linh nước tôi được khỏi lầm than, mà binh sĩ Trung Quốc cũng khỏi nỗi khổ gươm đao”.
      +Đầu 1427, nhà Minh quyết định điều quân sang tiếp viện cho Vương Thông.


    Trước thái độ đó Lê Lợi ra lệnh khép chặt vòng vây thành Đông Quan, thực hiện vừa đánh vừa đàm. Tuy nhiên Vương Thông vẫn lợi dụng sơ hở của ta mở một số cuộc phản kích, cố tạo ra vài thắng lợi nhỏ rồi khuếch đại lên để mong giữ vững tinh thần binh lính. Ngoài thành Đông Quan, quân Minh còn chiếm 12 thành. Nhưng đối với các thành này, chủ trương của nghĩa quân vừa vây hãm vừa dụ hàng. Nghĩa là kết hợp tấn công quân sự với địch vận được nâng lên thành thế trận chiến lược. Đối với quân Minh, Nguyễn Trãi chỉ rõ thế tất thắng của ta, thế thất bại của địch, vạch trận cái “bội ước thất tín” của Vương Thông, cái “cơ táng loạn” của triều đình nhà Minh và khuyên bảo: “Các người nếu biết kéo quân ra thành cùng ta hoà hảo tâm tình, thì ta coi các ngươi như anh em ruột thịt, nào chỉ bảo toàn tính mệnh vợ con mà thôi đâu!” mặt khác, Nguyễn Trãi cũng nghiêm khắc cảnh báo trước: “Nếu không thế, tuỳ các người. Trong khoảng sớm tối sẽ khắc thấy nhau. đến lúc bấy giờ, hối cũng không kịp”.


    Phương thức đấu tranh chung là vừa vây hãm vừa dụ hàng, nhưng yêu cầu đối với từng loại thành khác nhau.


    Kết quả 2/1427, chỉ còn hai thành Khâu Ôn và Xương Giang nhất định không chịu ra hàng, chúng liều chết cố thủ chờ viện binh. Như vậy, trước khi binh viện sang, quân Minh ở nước ta chỉ còn giữ được 4 thành : Đông Quan, Chí Linh, Cổ Lộng, Tây Đô. Nhưng quân địch đã mất khả năng chiến đấu. cả nước chuẩn bị sẵn sàng bước vào cuộc chiến có ý nghĩa quyết định tiêu diệt viện binh của quân Minh.


    *Chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang (8/10 -> 3/11/1427)

     419px-trn_chi_lng_-_xng_giang_500

    Chi Lăng - Xương Giang năm 1427


    Quân Minh tăng viện 15 vạn, thể hiện sự cố gắng chiến tranh rất lớn của quân Minh. Do đó cuộc chiến đấu tiêu diệt viện binh, đập tan cố gắng đó sẽ có ý nghĩa định đọt đối với sự nghiệp cứu nước của dân tộc ta.


    Vấn đề được đặt ra trong bộ chỉ huy nghĩa quân là đánh thành hay diệt viện trước. cuối cùng quyết định “Vây thành diệt viện”. như vậy chiến trường chủ yếu là miền rừng núi trên hai trục đường tiếp viện của quân Minh từ Quảng Tây và Vân nam sang. ở đây công việc chuẩn bị diệt viện được xúc tiến khẩn trương.


    Đánh giá đúng vị trí của đạo quân Mộc Thạnh và nắm vững thái độ, tư tưởng của viên chỉ huy, bộ chỉ huy nghĩa quân chỉ sử dụng một lực lượng cần thiết để kìm giữ chúng ở ải Lê Hoa, chủ trương tránh giao chiến lớn, kiên trì mai phục và kiềm chế, chờ dịp đánh địch.


    Lê Lợi chuẩn bị lực lượng với thế trận đánh hoàn toàn thắng và tiêu diệt gọn quân Liễu Thăng trên đoạn đường tiến quân từ Pha Luỹ đến xương Giang. tại Pha Luỹ, tướng Trần Lựu được lệnh nhử địch nhằm kích thích tính chủ quan và dẫn Liễu Thăng vào trận địa mai phục ở Ải Chi Lăng. Tại Xương Giang, tướng Trần Nguyên Hãn gấp rút biến thành luỹ thành một chiến luỹ kiên cố chặn đứng đường tiến quân của địch về Đông Quan. Ngoài ra, lực lượng vũ trang của các làng xã cũng được huy động vào các trận đánh diệt viện.


    -Trận Chi Lăng.
    Ải Chi Lăng là cửa ải xung yếu nhất trên con đường từ Pha Luỹ đến Đông Quan, cách Pha Luỹ 60 km. được xem là thế trận “phục binh giữ hiểm, đập gãy tiền phong”
    10/10/1427, Liễu Thăng đích thân dẫn 100 quân kị mã xông lên trước đội tiên phong, hung hăng mở đường tiến công vào Chi Lăng. Tướng Trần Lựu đã làm tốt nhiệm vụ nhữ địch vào trận địa mai phục của ta.
    Kết quả, trận Chi Lăng thắng lớn, đã tiêu diệt hơn 1 vạn quân tiên phong của địch cùng tên Liễu Thăng.
    Sau trận Chi Lăng quân ta liên tiếp giành thắng lợi ở các trận Cần Trạm (15/10), Phố Cát (18/10).
    -Đánh tan quân Mộc Thạnh: biết rõ thái độ dè dặt của Mộc thạnh, Nguyễn Trãi đã gửi thư vạch rõ nhưng thất bại, tổn hại nặng nề của quân minh ở nước ta và dùng lời lẽ ôn tồn khuyên chúng đầu hàng. Lê Lợi đã dùng 3 tên lính của Liễu Thăng đưa thư. Với đòn tấn công “đánh vào lòng người” đã có tác dụng lớn. Đọc thư, lại tận mắt thấy những chứng tích thất bại của Liễu Thăng, tướng Mộc Thạnh khiếp sợ vội đem quân tháo chạy.

     


    -Trận Xương Giang kết thúc:
    Vẫn với phương châm vừa đánh vừa dụ hàng. Nguyễn Trãi tiếp tục viết thư dụ hàng khuyên Thôi Tụ, Hoàng Phúc ở Xương Giang nên lui quân ra ngoài bờ cõi có tính chất như một tối hậu thư.
    Sau khi đánh tan quân Mộc Thạn ta tập trung vào trận Xương Giang. bộ chỉ huy ra lệnh gấp rút chuẩn bị tiêu diệt toàn bộ số quân địch còn lại, sớm kết thúc chiến tranh. Các tướng Lê Khôi, Nguyễn Xí, …được lệnh tập trung quân đến Xương Giang.
    3/11/1427, quân ta mở trận tổng công kích; từ bốn phía, hàng vạn quân bộ binh, kị binh,…nhất loạt tiến công quyết liệt vào khu vực phòng ngự của địch.
    Như vậy, sau 27 ngày chiến đấu, quân dân ta đã tiêu diệt 10 vạn viện binh của Liễu Thăng và đánh tan tác 5 vạn viện binh Mọcc Thạnh.


    Chiến thắng Chi Lăng –Xương Giang là trậnh chiến chiến lựoc có ý nghĩa định đoạt của cuộc chiến tranh giải  phóng dân tộc . Bằng thắng lợi đó, quân ta đã đập tan một cố gắng lớn nhất của nhà Minh, buộc Vương Thông ở Đông Quan phải đầu hàng và triều đình Mãn Thanh ở Bắc Kinh phải từ bỏ mưu đồ xâm lược nước ta.

    Với Hội thế Đông Quan, Vương Thông cam kết rút quân về nước, không dám ngoan cố chờ đợi viện binh trên đường rút quân, không được cướp bóc của nhân dân.

    Về phía ta, Lê Lợi phải đảm bảo tha cho quân địch được toàn tính mạng về nước và đối với triều Minh sẽ có biểu cầu phong.

    Sau hội thề, Lê Lợi giải vây cho các thành.

    Ngày 29/12/1427, quân Minh rút quân đến ngày 3/1/1428, đội bộ binh cuối cùng của Vương Thông lên đường về nước.

     

     

     
       

     

     

    Sưu tầm


    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 11:40 15/01/2009
    Số lượt xem: 209

     

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 09:52 08/02/2010
    Số lượt xem: 2194
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến