Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    Anh_Van_Giao_Tiep_Cho_Nguoi_Hoan_Toan_Mat_Goc___Ruby_Thao_Tran.flv NoiNayCoAnhSonTungMTP4772041.mp3 Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf

    Thành viên trực tuyến

    48 khách và 1 thành viên
  • Trần Khanh
  • Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Truyền thống dân tộc >

    SINH HOẠT CHỦ ĐIỂM :17-1-1960-Những cột mốc của quá trình Đồng Khởi

     Nhân dân thị xã Bến Tre đấu tranh chống bắn phá xóm làng

    Tháng 5-1959, Hội nghị lần thứ 15 của BCHTƯĐCS đã phân tích những đặc điểm tình hình và xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: "Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" (1). Nghị quyết khẳng định “Con đường cơ bản của cách mạng miền Nam là dùng bạo Iực. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng, thì đường lối dùng bạo lực là lấy sức mạnh của quần chúng dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng võ trang, hoặc nhiều hoặc ít tùy tình hình, để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân" (2).

       Nghị quyết 15 của TƯĐCS đã đánh dấu một mốc quan trọng về đường lối có tính chất nguyên tắc cho cách mạng miền Nam và đặt cơ sở để tiến tới đề ra nhiệm vụ chiến lược một cách chính xác, toàn diện.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành trung ương Đảng lần thứ 15 - Tháng 5/1959

     

       Tình hình miền Nam, từ giữa 1959 đã bộc lộ nhiều dấu hiệu chấm dứt sự ổn định tạm thời của chính quyền tay sai và bắt đầu thời kỳ khủng hoảng kéo dài. Mọi tầng lớp nhân dân đều bất bình, căm phẫn, sẵn sàng đứng lên đấu tranh chống lại địch. Nội bộ ngụy quân, ngụy quyền phân hóa mạnh. Chính quyền địch ở nông thôn trở nên bất lực, suy yếu, không đủ sức kiềm kẹp nhân dân như cũ. Đó là những điều kiện cho phép cuộc khởi nghĩa từng phần có thể nổ ra.

       Tháng 12-1959, Hội nghị đại biểu các tỉnh miền Trung Nam Bộ được triệu tập để truyền đạt Nghị quyết 15 của Trung ương và bàn chủ trương chuyển hướng phong trào.

       - Đêm 2-1-1960, Hội nghị cán bộ lãnh đạo Bến Tre do Thường vụ Tỉnh ủy triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày để truyền đạt nghị quyết của Trung ương và bàn kế hoạch phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá thế kiềm kẹp của địch. Nghị quyết của hội nghị là phát động một tuần lễ nổi dậy đồng loạt trong tỉnh từ 17-1-1960 đến 25-1-1960.

    Lược đồ phong trào Đồng Khởi 

    luoc_do_phong_trao_dong_khoi_500

     

       - Ngày 17-1-1960, theo kế hoạch đã định, cuộc Đồng khởi nổ ra thắng lợi đúng như dự kiến tại 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (Mỏ Cày).

       Ngày 22-2-1960, Mỹ, Diệm tập trung lực lượng phản kích mạnh mẽ. Chúng huy động hơn 12 ngàn quân chủ lực từ các tỉnh lân cận, có 15 tàu chiến và nhiều máy bay, đại bác yểm trợ tấn công vào trung tâm cuộc khởi nghĩa, nhằm tiêu diệt lực lượng võ trang cách mạng, hòng lập lại trật tự cũ. Lực lượng vũ trang non trẻ ở 3 xã đã chặn đánh địch quyết liệt.

       - Ngày 27-2-1960, hàng ngàn dân các xã Phước Hiệp, Bình Khánh, Định Thủy đi trên 200 chiếc xuồng, gồm các chị, các mẹ bế theo con cái, mang người bị thương, đội khăn tang, đem theo gạo thóc, soong nồi, mùng mền "tản cư" vào thị trấn Mỏ Cày, đưa yêu sách đòi quận trưởng ra lệnh rút quân, chấm dứt càn quét khủng bố. Cuộc đấu tranh kéo dài 12 ngày đêm.

       - Ngày 10-3-1960, đại diện Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn bay đến Bến Tre, thị sát tình hình và sau đó phải ra lệnh rút quân, bỏ dở cuộc càn quét.

       Sau khi chỉ đạo cuộc Đồng Khởi thắng lợi ở Mỏ Cày, Tỉnh ủy Bến Tre quyết định chuyển hướng sang Giồng Trôm, tập trung ở 3 xã trọng điểm Châu Hòa, Châu Bình và Phong Mỹ.

    • Tháng 3-1960, một cuộc đấu tranh chính trị của hơn 7.000 phụ nữ Giồng Trôm đòi các đơn vị quân chủ lực của địch đang đi càn quét phải rút về vị trí cũ.
    • Tháng 6-1960, XUNB quyết định phát động Đồng khởi trong toàn Nam Bộ
    • Tháng 9-1960, Ban lãnh đạo miền Trung Nam Bộ họp đánh giá tình hình, rút kinh nghiệm phong trào Đồng khởi Bến Tre, ra nghị quyết phát động phong trào Đồng khởi trong toàn khu 8.
    • Cao trào Đồng khởi từ Bến Tre nhanh chóng lan rộng khắp các tỉnh Nam Bộ, ra các tỉnh ven biển khu 5 và Tây Nguyên, làm thay đổi cục diện chính trị ở miền Nam, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền cơ sở địch.
    • Ngày 24-9-1960, Bến Tre phát động cuộc Đồng khởi đợt II, sau khi đã kiểm điểm, rút kinh nghiệm của cuộc nổi dậy đồng loạt đợt I. Cuộc Đồng khởi không chỉ diễn ra ở những nơi có phong trào mạnh, mà còn được phát động ngay cả ở những vùng yếu, cơ sở cách mạng còn mỏng trong các huyện khác của tỉnh.

       Như vậy, Đồng khởi ở Bến Tre không chỉ có nghĩa đơn giản là cuộc nổi dậy đồng loạt của nhân dân từ tay không cướp đồn địch, giành chính quyền và cũng không chỉ giới hạn trong đợt I và đợt II. Đồng khởi là một quá trình liên tục tiến công, liên tục nổi dậy, liên tục giành thắng lợi, hết đợt này đến đợt khác. Đó là một hình thức đấu tranh độc đáo, sáng tạo của cách mạng Việt Nam.

       Thắng lợi cuộc Đồng khởi Bến Tre và các cuộc Đồng khởi trong toàn miền tiếp sau đó đã đưa đến việc thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 20-12-1960.

     

    Trích theo Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Nxb Quân đội nhân dân, H.1980.

    Trích theo Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Sđd.

     

    “Đội quân tóc dài” là tên gọi phong trào đấu tranh của phụ nữ miền Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

     Đội quân tóc dài Bến Tre

     Đội quân tóc dài Bến Tre

    “Đội quân tóc dài” ra đời trong phong trào Đồng khởi của tỉnh Bừn Tre năm 1960 sau khi có Nghị quyết Trung ương số 15 mở ra con đường đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ tranh của cách mạng miền Nam, phát động hàng chục triệu lượt quần chúng yêu nước nổi dậy thành cao trào Đồng khởi.

     

    Phong trào bắt đầu bùng nổ ngày 17/1/1960 tại 3 xã: Định Thuỷ, Phước Hiệp, Bình Khánh của huyện Mỏ Cày tỉnh Bến Tre. Sau đó phong trào đã lan rộng ra 47 xã thuộc 6 huyện của tỉnh Bến Tre. Dưới sự lãnh đạo của tỉnh uỷ Bến Tre chị em đã cùng đồng bào nổi trống gõ mõ, gây tiếng nổ, kéo lực lượng vây đồn, đốt bốt, hù doạ địch, gọi hàng binh sĩ, tước súng để trang bị cho lực lượng quần chúng diệt tề, phá kìm kẹp, giải phóng cho 22 xã, phá khu dồn dân, giành quyền làm chủ cho 22 xã khác. Trong cuộc nổi dậy này, đã xuất hiện người nữ lãnh đạo tài tình Nguyễn Thị Định.

     

    Cuộc nổi dậy tấn công địch của quần chúng đã liên tục giành thắng lợi và phong trào Đồng khởi ngày càng lan rộng. Chị em đã đấu tranh trực diện đòi địch chấm dứt càn quét, bắn giết nhân dân với những khẩu hiệu đấu tranh sắc bén, đã tranh thủ được sự ủng hộ của đông đảo các tầng lớp nhân dân, làm cho địch phải lùi bước trước sức đấu tranh của quần chúng.

     

    Trung ương cục miền Nam đã đánh giá thắng lợi to lớn của phong trào Đồng khởi của tỉnh Bến Tre và coi đó là hình thức khởi nghĩa tiêu biểu ở vùng nông thôn, đồng bằng với 2 phương châm (chính trị, vũ trang), tấn công địch bằng 3 mũi giáp công (chính trị, binh vận kết hợp với vũ trang), đặc biệt là sự xuất hiện của “Đội quân tóc dài” tấn công trực diện vào cơ quan đầu não của địch.

     

    Từ thắng lợi này, khắp đồng bằng Nam Bộ và các tỉnh miền Trung đến Tây Nguyên, quần chúng nhân dân đã nhất tề nổi dậy thành phong trào Đồng khởi của toàn Miền Nam với khí thế to lớn chưa từng có.

     

    Tổng kết phong trào Đồng khởi năm 1960, đã có 9 triệu lượt quần chúng nổi dậy, gần 1 triệu lượt phụ nữ đấu tranh trực diện kết hợp với lực lượng vũ trang góp phần làm tan rã trên 2 vạn binh lính và dân vệ, phá kìm kẹp 895 xã trên tổng số 1.193 xã ở miền Nam.

     

    Trong khí thế sôi nổi của phong trào Đồng khởi , ngày 20/12/1960. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Ngày 8/3/1961, Hội Liên hiệp giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập là ngọn cờ hiệu triệu, tập hợp, đoàn kết các tầng lớp phụ nữmiền Nam tham gia cùng nhân dân miền Nam trong cuộc dấu tranh chống Mỹ cứu nước. Cũng từ đó: “Đội quân tóc dài” -lực lượng đấu tranh 3 mũi kiên cường của phụ nữ miền Nam vững bước tiến lên.

     

    Suốt các giai đoạn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, chị em đã cùng quân và dân miền Nam đánh trả “cuộc chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ ” và “Việt Nam hoá chiến tranh” của bọn Mỹ Ngụy. Chị em chẳng những đấu tranh trực diện với bọn Mỹ Ngụy mà còn đấu tranh đối mặt với bọn Mỹ và bọn chư hầu. “Đội quân tóc dài ” đã kiên cường và liên tục đấu tranh phá ấp chiến lược, chống bình định nông thôn, chống hành quân càn quét, chống phi pháo huỷ diệt và dồn quân bắt lính của Mỹ Ngụy.

     

    “Đội quân tóc dài” đã ngày càng vận dụng nhuần nhuyễn phương châm 3 mũi giáp công. Lực lượng phụ nữ có khả năng tiến hành được cả 3 mũi: chính trị, binh vận và vũ trang. Một phụ nữ cũng có thể đấu tranh được 3 mũi: vừa trực diện đấu lí với địch, vùa khéo léo tranh thủ binh sỹ và tự mình thừa thời cơ diệt ác, trừ gian. Lúc đấu tranh tại chỗ thì các mẹ và các chị kiên cường bám trụ“một tấc không đi, một li không rời”, khi đấu tranh tập trung liên tục tấn công vào sơ hở của kẻ địch để giành thắng lợi, lúc kết hợp vũ trang thì mưu trí sáng tạo và cơ động; hình thức đấu tranh thì vô cùng quyết liệt và phong phú. Tổ chức lực lượng đấu tranh của “Đội quân tóc dài” ngày càng quy củ và linh hoạt: có lực lượng xung kích và chủ công; có hợp đồng lực lượng nhiều địa phương, có tiếp tế, có hậu cần tải thương, khi bị khủng bố có thay quân và bổ sung cần thiết, kiên trì đấu tranh giành cho được thắng lợi.

     

    Với những họat động tài tình nêu trên, “Đội quân tóc dài” được đánh giá: Có sức níu cánh máy bay, bịt nòng đại bác, chặn đứng chiến xa và bẻ gẫy hành quân càn quét của địch.

     

    Tại các đô thị, lực lượng đấu tranh của “Đội quân tóc dài” bao gồm các tầng lớp phụ nữ như công nhân, tiểu thương, nữ tu, phật tủ, giáo chức, trí thức... Lực lượng phụ nữ đô thị đã phối hợp nhịp nhành với lực lượng phụ nữ vùng nông thôn, vùng ven, các tỉnh Tây Nguyên và phối hợp chặt chẽ với chiến trường làm cho địch vô cùng hoảng sợ.

     

    Đảng ta đã đánh giá: Phụ nữ miền Nam không những có thành tích lớn trong đấu tranh binh vận mà còn tỏ ra có năng lực lớn trong đấu tranh vũ trang.

    Hàng chục vạn phụ nữ từ miền núi đến đồng bằng và đô thị đã tham gia du kích bám đất giữ làng, tham gia tự vệ làm nhiệm vụ diệt ác phá kìm, giáng cho Mỹ Ngụy những đòn sấm sét ngay tại sào huyệt của chúng.

     

    Từ phong trào Đồng khởi đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, “Đội quân tóc dài” -lực lượng đấu tranh của phụ nữ- đã tham gia trực tiếp đánh giặc, góp phần làm tan rã ngụy quân, ngụy quyền ở cơ sở, giành chính quyền về tay nhân dân.

     

    “Đội quân tóc dài” đã góp phần to lớn vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


    “Đội quân tóc dài” xứng đáng là niềm tự hào của phụ nữ và dân tộc Việt Nam .

     Sưu tầm


    Nhắn tin cho tác giả
    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 19:15 16/01/2010
    Số lượt xem: 3890
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến