Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    Anh_Van_Giao_Tiep_Cho_Nguoi_Hoan_Toan_Mat_Goc___Ruby_Thao_Tran.flv NoiNayCoAnhSonTungMTP4772041.mp3 Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf

    Thành viên trực tuyến

    42 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Truyền thống dân tộc >

    Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ 23/11/1940


     

     

     

     Khởi nghĩa Nam Kỳ là một trong những mốc son của lịch sử nước nhà
    (Ảnh: internet)

     

     

     

     

     

     

     Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra từ giữa đêm 22 rạng ngày 23/11 cho đến ngày 31/12/1940, cách đây 69 năm. Đây là cuộc khởi nghĩa vũ trang có quy mô rộng lớn và mạnh mẽ nhất kể từ lúc giặc Pháp xâm lược nước ta năm 1858 đến năm 1940.

    Trong đêm 22 rạng ngày 23/11/1940, nhân dân các xã ở các huyện Gò Vấp, Hóc Môn, Nhà Bè, Thủ Đức, Trung Quận, Đức Hòa, Cần Giuộc, Cần Đước đã nổi dậy đánh trống mỏ, phèng la, thùng thiếc… vang dội, kéo ra đường tuần hành thị uy, hô vang khẩu hiệu, rải truyền đơn, kêu gọi tề, lính đầu hàng, chặt cây cản đường, phá cầu, cắt dây điện thoại, chiếm đốt nhà việc, cổ vũ các đội quân khởi nghĩa và uy hiếp tinh thần địch. Đội quân khởi nghĩa gồm các thanh niên nam nữ tự trang bị giáo mác, dao, rựa, búa, phảng, cuốc, xẻng, xà beng, tầm vông vạt nhọn, dây trói… tiến công vào các bót địch. Nhiều nơi lính hoảng sợ, bỏ súng trốn chạy. Ta lấy súng trang bị cho nghĩa quân.

    Ngày 1/12/1940, điện của Toàn quyền Đông Dương Decoux ghi rõ: “Cần dùng tối đa các biện pháp và bóp nghẹt không thương tiếc bọn phiến loạn”.Tuân theo sự chỉ đạo của Decoux, thống đốc Nam Kỳ đã ra lệnh thiết quân luật; huy động hải, lục, không quân, toàn bộ cảnh sát, mật vụ, lính khố xanh, lính làng… dùng cả xe tăng, tàu chiến, máy bay đàn áp. Chúng đã cho đốt làng, đốt rừng, đưa quân ruồng bố, bắn giết, bắt bớ giam cầm, chà đi xát lại suốt tháng 12/1940 đến đầu năm 1941. Nghĩa quân ngày càng gặp thêm nhiều khó khăn, phải rút lên Truông Mít (Thủ Dầu Một) và Bình Hòa – Bình Thành nằm trong vùng Đồng Tháp và rừng U Minh để củng cố lực lượng chờ thời cơ mới.

    Trung ương Đảng nhận thấy cuộc khởi nghĩa chưa có đủ điều kiện khách quan chủ quan, đã cố ngăn lại nhưng không kịp. Khi được tin cuộc khởi nghĩa đã nổ ra thì Trung ương đã ra thông báo khẩn cấp, nêu nhiệm vụ của Đảng bộ Trung, Bắc Kỳ là phải lập tức tổ chức những cuộc hưởng ứng gây thêm thanh thế cho quân khởi nghĩa và phân chia lực lượng địch, không để chúng tập trung đàn áp phong trào nổi dậy ở Nam Kỳ.

    Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tuy thất bại nhưng đã có tiếng vang lớn, chẳng những trong nước mà còn làm nức lòng cả những chiến sĩ cách mạng ở Pháp. Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, Đảng Cộng sản Pháp đã gửi đến Đảng Cộng sản Đông Dương một bức thư, trong đó có đoạn: “…Chúng tôi cúi đầu trước vong linh những người chiến sĩ đấu tranh cho tự do đã hy sinh hồi tháng 11 dưới súng liên thanh của Decoux, Beaudouin, Pétain… Chúng tôi kính cẩn nghiêng mình trước những người anh hùng đó, đặc biệt chúng tôi nghiêng mình trước những anh chị em ruột thịt anh hùng là đảng viên của Đảng Cộng sản Đông Dương”.

    Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 tháng 5/1941 phân tích ba cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn – Nam Kỳ – Đô Lương diễn ra trong hơn 3 tháng ở ba miền Trung Nam Bắc, đã cho rằng: “Đó là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đấu tranh bằng võ lực của các dân tộc Đông Dương”.

    Ngày 14/4/1948, Hồ Chủ tịch đã ký sắc lệnh số 163/SL tặng Huân chương Quân công hạng nhất cho Đội quân khởi nghĩa Nam bộ, nhằm tôn vinh ý nghĩa to lớn của cuộc khởi nghĩa đối với lịch sử cách mạng Việt Nam. Tinh thần cảm tử cho dân tộc quyết sinh của các chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa đã góp phần hun đúc lòng dũng cảm, chí kiên cường cho Đảng ta, cho cả dân tộc ta để giành thắng lợi trong cuộc cách mạng tháng 8/1945, trong cuộc kháng chiến dưới mưa bom bão đạn 30 năm trời không nghỉ, để đánh bại hết giặc Pháp đến giặc Mỹ xâm lược, giành độc lập cho dân tộc và cả cho đến ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước.

    Khát vọng tự do độc lập của các chiến sĩ khởi nghĩa Nam Kỳ đã thôi thúc chúng ta tâm niệm: đời đời biết ơn, mãi mãi noi gương các anh hùng, liệt sĩ, quyết đem hết tinh thần và nghị lực để giữ vững nền độc lập đã giành được, phấn đấu làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh./.

     Sưu tầm 


    Nhắn tin cho tác giả
    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 16:35 24/11/2009
    Số lượt xem: 2923
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến