Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    NoiNayCoAnhSonTungMTP4772041.mp3 Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf Bai_ca_nguoi_giao_vien_nhan_dan.swf Clock_hoacucvang_thang111.swf

    Thành viên trực tuyến

    4 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Nữ lưu Đất Việt >

    Phẩm chất cao quý và cống hiến to lớn của hai nữ quý tộc đất Thăng Long



    Trong lịch sử Việt Nam, phụ nữ giữ vai trò đặc biệt trong sự nghiệp chống ngoại xâm. Trên thế giới, hiếm thấy một dân tộc nào từ những thế kỷ đầu công nguyên đã sản sinh ra các nữ anh hùng dân tộc như Hai Bà Trưng, Bà Triệu; cũng hiếm có những nữ quý tộc đã dũng cảm hy sinh tình riêng, cung vàng, phú quý vì sự nghiệp dựng nước, mở nước, giữ nước và thống nhất đất nước như công chúa Huyền Trân thời Trần và công chúa Ngọc Hân thời Lê ở nước ta.

    Về công chúa Huyền Trân

    Sau hai lần lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nguyên (năm 1285 và 1288), vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông và làm Thái thượng hoàng (năm 1293). Năm 1299, Thượng hoàng đi tu lúc mới 41 tuổi và trở thành vị tổ khai sinh ra thiền phái Trúc Lâm – Việt Nam. Trong những năm tu hành ở chốn địa đầu phía Bắc Tổ quốc, vị anh hùng trong hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên tự nguyện làm người lính vệ quốc, chọn điểm cao của rừng núi Yên Tử làm vọng gác tiền tiêu để canh giữ biên cương, làm lá chắn tinh thần nhằm ngăn chặn vó ngựa và cung kiếm của quân Nguyên luôn đe dọa vận mệnh dân tộc và đời sống nhân dân.


    Từ đỉnh cao của núi rừng Yên Tử phía Bắc, nhà chiến lược thiên tài Trần Nhân Tông phóng tầm nhìn về phía Nam, thấy vùng đất có thể nuôi dân tự cường, đất có thể trở thành hậu phương lớn trước sức ép của các đế chế phương Bắc, đất mở ra tiền đồ cho đất nước.


    Năm 1301, với tư cách là Thượng hoàng và nhà tu hành đạt đạo, Trần Nhân Tông từ Yên Tử xuống núi vi hành vào xứ sở phương Nam theo lời mời của vua Chămpa là Chế Mân, vốn là Thái tử Harijit là đồng minh của vua Trần trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên (1282 - 1285 - 1288), với mong muốn có được liên minh bền chặt lâu dài giữa hai nước Đại Việt - Chămpa. Trong dịp này, Thượng hoàng Trần Nhân Tông hứa gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân như là sợi dây nhằm thắt chặt hơn mối quan hệ thân thiện vốn có giữa hai nước. Để được công chúa Huyền Trân, công chúa duy nhất của Thượng hoàng Trần Nhân Tông, vua Chế Mân xin đem hai châu Ô và Lý làm lễ dẫn cưới. Hai châu Ô và Lý vốn là vùng “đất thiêng” của người Việt cổ từ thời Hùng Vương, sau hơn 10 thế kỷ đặt dưới sự cai trị của các quốc vương Chămpa, nay mới quy về giang sơn Đại Việt (năm 1306). Năm 1307, vua Trần đổi tên làm châu Thuận và châu Hoá - nay là đất của tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, thành phố Đà Nẵng và bắc tỉnh Quảng Nam.


    Con đường để đi tới cuộc hôn nhân này không hề suôn sẻ chút nào. Trong suốt 5 năm (1301 - 1306), năm nào vua Chế Mân cũng đưa sứ giả với lễ vật trọng thị ra Thăng Long xin cầu hôn nhưng triều thần, hoàng gia và công chúa cũng không đồng thuận. Mùa xuân năm 1305, Chế Mân sai Chế Bồ Đài dẫn đầu đoàn sứ giả cầu hôn, hơn 100 người mang theo vàng bạc, hương liệu, vật lạ quý trong đó có lễ vật hứa hôn là đất hai châu Ô và Lý, các quan trong triều cũng không chịu. Các văn sĩ Thăng Long làm thơ quốc âm chế giễu, mỉa mai:

    Tiếc thay cây quế giữa rừng

    Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo

    Chỉ có Văn Túc Vương Đạo Tái và quan Nhập nội Đại hành khiển Trần Khắc Chung (là người yêu của công chúa) bằng lòng và ra sức thuyết phục nên cuối cùng triều thần và công chúa Huyền Trân phải chấp nhận. Sau khi nhà Trần cho thực thi chế độ điền trang từ năm 1266 thì đất đai là vô giá và trở thành mục tiêu trong các chính sách của nhà Trần, Đại Việt từ đó có thêm đất Thuận Hoá.


    Để có được vùng đất này là nhờ sự hy sinh cao cả của bản thân công chúa Huyền Trân và của Thượng hoàng Trần Nhân Tông. Con cái - ruột thịt là quý, hạnh phúc bản thân là quý, nhưng đối với đất nước và lợi ích dân tộc thì đất đai, lãnh thổ và nền độc lập còn quý hơn.


    Chọn một con đường đi không có chiến tranh mà giữ được nước và mở mang được bờ cõi; phẩm chất và sự hy sinh của công chúa Huyền Trân được hậu thế muôn đời ghi nhớ cũng là một sự kiện đặc sắc trong lịch sử mở nước và lịch sử ngoại giao của Việt Nam. Có được thành quả to lớn này là do Trần Nhân Tông và con gái của ông - Công chúa Huyền Trân là người trực tiếp chịu đựng hy sinh.


    Nhưng tiếc rằng, công chúa chỉ sống với vua Chăm ở kinh thành Vijaya (thành Đồ Bàn - Bình Định) chưa đầy một năm. Tháng 6 năm 1307, Chế Mân chết. Theo tập quán Chămpa, công chúa Huyền Trân phải lên dàn hoả để chết theo nhà vua. Đó là một diễm phúc cho bất cứ một phụ nữ Chămpa nào, nhưng đối với Thượng hoàng Trần Nhân Tông và công chúa Huyền Trân thì đây lại là một bất hạnh nghiệt ngã. Triều Trần cử một sứ đoàn do Trần Khắc Chung dẫn đầu vào kinh đô Chămpa để dự lễ tang nhưng mục đích là đưa công chúa về nước.


    Trần Khắc Chung đã khôn khéo lập mưu. Sử cũ chép sự việc này như sau: Trần Khắc Chung nói rằng: “Nếu công chúa hoả táng thì việc làm chay không có người chủ trương, chi bằng hãy ra bờ biển làm lễ chiêu hồn ở ven trời đón linh hồn cùng về, rồi sẽ vào đàn thiêu”. Người Chiêm nghe theo, Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa đem về, rồi tư thông với công chúa, loanh quanh mãi ở đường biển lâu ngày mới về đến kinh sư.


    Sau sự việc này, Trần Khắc Chung và công chúa Huyền Trân bị triều thần và hoàng tộc lên án. Sự nghiệp của hai người đối với nhà Trần từ đó cũng tiêu tan thì cũng là một bất hạnh khác, nỗi oan nghiệt cho công chúa Huyền Trân sau gần 7 thế kỷ vẫn chưa được giãi bày. Nhưng biết đâu công chúa lại thêm một lần chịu đựng, hy sinh vì danh dự của triều Trần và mối quan hệ hai nước Đại Việt - Chămpa nên đã nhận trách nhiệm về mình trước gia pháp và dư luận để nhà Trần khỏi mang tiếng cử sứ giả đi dự lễ tang rồi lợi dụng sự nhẹ dạ và sơ hở của Chămpa mà cướp công chúa đưa về nước.


    Mặc dù không được triều Trần ghi nhận và bị người Chăm oán trách, nhưng công chúa Huyền Trân được nhân dân Thuận Hoá lập đền thờ ở nhiều nơi để ghi nhớ công đức về người đã có công tạo nên xứ sở trong nhiều thế kỷ qua, được thành phố Huế lấy đặt tên đường và tên trường học. Năm 2006 sắp tới, nhân kỷ niệm 700 năm Thuận Hoá - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đang tiến hành xây dựng đền thờ và tượng đài công chúa Huyền Trân, tổ chức hội thảo kỷ niệm nhân ngày lễ trọng đại này đối với địa phương.

     

    Về công chúa Ngọc Hân

    altCông chúa Ngọc Hân sinh ngày 22 tháng 5 năm 1770 (27 tháng 4 năm Canh Dần) là công chúa có tài sắc hơn cả trong số các cô con gái của vua Lê Hiển Tông (niên hiệu Cảnh Hưng), mẹ là Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền quê ở Bắc Ninh.
    Mùa hè năm 1786, Nguyễn Huệ từ Phú Xuân ra Thăng Long phù Lê - diệt Trịnh, lập lại nền thống nhất đất nước. Để đền đáp công lao này và cũng nhằm thắt chặt mối quan hệ với Tây Sơn, vua Lê đã gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Năm đó, công chúa mới 16 tuổi.


    Ngọc Hân được vua cha dành cho sự tin yêu đặc biệt, nhà vua thường nói: “Con bé sau này nên gả làm vương phi. Không nên gả cho hạng phò mã tầm thường”.
    Sau khi được vua Lê hứa gả công chúa thứ 9 có tài sắc nhất trong 6 cô chưa chồng, Nguyễn Huệ khôi hài, dí dỏm nói: “Vì dẹp loạn mà ra, để rồi lấy vợ mà về, bọn trẻ nó cười cho thì sao. Tuy nhiên, ta chỉ mới quen gái Nam Hà, chưa biết con gái Bắc Hà, nay cũng thử một chuyến xem có tốt không?”.


    Lễ cưới được tổ chức rất trọng thể tại kinh thành Thăng Long.
    Qua câu nói trên của Nguyễn Huệ nhiều người đã làm tầm thường hoá mối hôn nhân này. Có người đề cao, cho đó là duyên trai tài gái sắc. Một số khác lại cho rằng Ngọc Hân bị ép trong mối nhân duyên chính trị để giữ chữ hiếu với vua cha.

    Theo tôi, việc lấy công chúa Ngọc Hân làm vợ và sau này lập làm Bắc cung Hoàng hậu là thể hiện một tầm nhìn chiến lược về sử dụng nhân tài của Nguyễn Huệ.


    Sau chiến thắng Phú Xuân và tiếp đó là chiến công trong chuyến ra Thăng Long lần đầu vào mùa hè năm 1786, Nguyễn Huệ đã hình thành một ý tưởng xây dựng một trung tâm chính trị cho Bắc Bình vương và sau đó là kinh đô của triều Tây Sơn tại Phú Xuân. Việc cấp bách đặt ra lúc này không phải là sức mạnh quân sự mà chính là trí tuệ của đội ngũ nho sĩ, quan văn.


    Vừa chiến thắng Phú Xuân, Nguyễn Huệ cho mời giải nguyên Trần Văn Kỷ đến cộng tác và ngay sau đó Trần Văn Kỷ được phong tước hầu với chức Trung thư lệnh. Ra Thăng Long lần đầu có Trần Văn Kỷ cùng đi với nhiệm vụ quan trọng là tuyển chọn người tài trong số quan lại nhà Lê về với Tây Sơn. Ngô Thì Nhậm được mời làm Tả thị lang bộ Lại và phong tước hầu cũng trong dịp đó. Nhiều Tiến sĩ nhà Lê khác theo lời mời của Nguyễn Huệ ra trình kiến, trong đó có Trần Công Xán vào những ngày đầu ông có mặt ở Thăng Long. Rồi việc Nguyễn Huệ và Trần Văn Kỷ kiên trì mời Nguyễn Thiếp ra cộng tác... Qua đó mới thấy sự quý trọng của Nguyễn Huệ đối với các Tiến sĩ thực tài của nhà Lê mà ông đang khao khát, dù biết rằng việc thuyết phục nhân sĩ Bắc Hà ra cộng tác với lãnh tụ cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn cũng không phải là đơn giản, cho dù ông có đủ quyền lực và mưu kế. Vì vậy, con đường ngắn nhất để tiếp cận với nhân sĩ Bắc Hà là chiếc cầu hôn nhân mà Ngọc Hân nữ sĩ sẽ là người có uy thế bắc nhịp cầu đầu tiên cho trí thức, nhân sĩ Bắc Hà đến với Tây Sơn. Trong cung điện Tây Sơn hoàng hậu Ngọc Hân sẽ tạo nên một niềm tin, một chỗ đứng chính trị cho đội ngũ quan lại mới từ Bắc Hà theo về Tây Sơn mà sau này chúng ta thấy có Phan Huy Ích, Đoàn Nguyễn Tuấn, Ninh Tốn... Ngọc Hân trở thành biểu tượng đoàn kết, thống nhất lòng người trong chiến lược dùng nhân tài của Nguyễn Huệ sau khi đất nước đã lập lại sự thống nhất vào năm 1786.


    Ngọc Hân đã làm hết sức mình cho sự nghiệp áo vải cờ đào của Nguyễn Huệ trong đó có nhiều trí thức tâm huyết tiêu biểu cho trí tuệ Bắc Hà về với Phú Xuân. Tháng 5 năm 1788, Ngọc Hân theo Nguyễn Huệ ra Thăng Long để diệt tên phản bội Võ Văn Nhậm. Bà đã tiếp xúc, vận động nhân sĩ Bắc Hà về với Tây Sơn và tham gia xây dựng bộ máy nhân sự Tây Sơn tại Bắc Hà sau khi Lê Chiêu Thống bỏ thành Thăng Long và cho người sang cầu viện nhà Thanh.


    Sau ngày Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế (22-12-1788), Ngọc Hân được phong làm Bắc Cung hoàng hậu.


    Công lao và sự nghiệp của Ngọc Hân trong việc triều chính ở Phú Xuân lúc vua Quang Trung còn sống được ghi lại qua một số biểu văn đương thời. Trong bài biểu của triều thần chúc mừng Ngọc Hân nhân dịp tết Đoan Ngọ (5-5 âm lịch) có đoạn:
    “Kính nghĩ hoàng hậu là ánh sáng toả lan của lá ngọc cành vàng, là chi nhánh của sông Ngân, sông Phái. Lúc bà vu quy cung nhân theo thứ bậc, thuận lòng giúp rập, giặt giũ áo xiêm, tiếng tốt đã chói lọi, nên cung kính thuận hoà, khi đưa dâu theo hàng trăm cỗ.


    Lúc gà gáy, nửa đêm, bà ân cần giúp rập hoàng đế mặc áo thêm để lo việc triều chính. Đặt nền tảng đầu tiên là bà, có một lần bà động viên nhắc nhở quân binh mang áo giáp ra chiến trường thì phải mang về chiến thắng.
    Về tề gia trị quốc, bà đã tham gia vào việc chiến chinh của hoàng đế. Bà đã khiêm nhường hoà nhã, cần phát huy mãi cái phẩm chất trong sáng tự nhiên...”
    Một bài biểu khác chúc mừng Bắc cung Hoàng hậu có đoạn:

    Kính nghĩ hoàng hậu bệ hạ là dòng dõi hoàng tộc ân đức rạng rỡ, đánh đàn rủ áo mà hoà mục phong hoá thanh trong. Đọc kinh Thư, giải kinh Dịch làm nền tảng cho việc đẹp đẽ dồi dào, đưa mày vẫy tay, siêng cần lo việc thành tựu nghiệp cả. Sinh nhà Hạ, hưng nhà Chu tạo nên công nghiệp lớn...”.

    Công chúa Ngọc Hân đã góp phần quy tụ được các nhà thơ, nhà văn lớn của Bắc Hà như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Ninh Tốn... về với Tây Sơn để tạo nên dòng văn học Phú Xuân thời Tây Sơn nổi tiếng và đặc sắc. Riêng Ngọc Hân đã để lại cho hậu thế bài Ai tư vãn là một áng văn tuyệt tác và bài Văn tế vua Quang Trung quen thuộc. Ngoài ra, Ngọc Hân còn có bài Biếu chúc thọ vua Quang Trung năm nhà vua 40 tuổi (năm 1792). Một đoạn văn sau đây thể hiện được tài năng của Ngọc Hân và góp phần đánh giá thêm về công lao của Hoàng đế Quang Trung:
    Kính nghĩ hoàng đế bệ hạ tài cao thiên cổ đức hợp được cả trời - đất. Tuân mệnh trời trừ gian diệt bạo, vũ công chấn động cả muôn phương, hùng khí Tây Sơn đã tạo nên sự nghiệp đế vương, ở cõi giao dã phía đông đã định xong quy mô của nước nhà. Mặt trời đỏ rạng mà nghiêm, đáng tin sao Thọ tinh chiếu sáng mà thiên hạ đều cùng ngưỡng lên trông mong mường tựa sao Xu của Bắc đẩu điện vây, ánh sáng nổi lên chen mừng vạn thọ. Cửa trời mây mở sắc trông thấu triệt mặt kính ngàn thu. Bốn mùa thường điều hoà khiến cái đức của vua đẹp như ngọc và sáng như đuốc, trong muôn năm mãi chiếc âu vàng...”.

    Vua Quang Trung mất đột ngột vào ngày 15 tháng 9 năm 1792 lúc Ngọc Hân mới 22 tuổi. Bà trở thành Thái hậu dưới triều vua Cảnh Thịnh. Bà có hai con với vua Quang Trung là Nguyễn Văn Đức và Nguyễn Thị Ngọc sống cho đến ngày suy tàn của triều Tây Sơn tại Phú Xuân vào tháng 6 năm 1801. Còn Ngọc Hân chết tại Phú Xuân vào ngày 4 tháng 12 năm 1799 (tức ngày 8 tháng 11 năm Kỷ Mùi), hưởng dương 29 tuổi.
    Chứ không phải như truyền thuyết và một số tài liệu lưu truyền ở Huế trước năm 1945 là Ngọc Hân sau năm 1801 lấy Gia Long và tiếp tục làm thiếp cho Nguyễn Vương, người đã chiến thắng vương triều Tây Sơn tại Phú Xuân.


    Phụ nữ Việt Nam thời quân chủ bị tước mất vai trò xã hội, phụ nữ quý tộc phải rút lui vào hậu trường để nâng khăn sửa túi cho đấng mày râu. Thế nhưng, lịch sử Việt Nam chứng kiến có hai nữ quý tộc thời Trần là công chúa Huyền Trân và thời Lê là công chúa Ngọc Hân - hai người phụ nữ tài hoa tuyệt vời, phẩm chất cao đẹp và có những cống hiến to lớn cho dân tộc mang tính mở đường đáp ứng xu thế phát triển của lịch sử.


    Nhân dân Thuận Hoá - Thừa Thiên Huế luôn ghi nhớ công ơn hai nữ quý tộc đất Thăng Long xưa và sẽ làm hết mình để bồi đắp thêm tình nghĩa Thăng Long – Hà Nội và Phú Xuân - Huế vốn đã sâu sắc và đậm đà trong lịch sử.


    Nguồn tin: Theo Thăng long - Hà Nội
     

    Nhắn tin cho tác giả
    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 16:22 30/10/2009
    Số lượt xem: 1056
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến