Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    Anh_Van_Giao_Tiep_Cho_Nguoi_Hoan_Toan_Mat_Goc___Ruby_Thao_Tran.flv NoiNayCoAnhSonTungMTP4772041.mp3 Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf

    Thành viên trực tuyến

    8 khách và 1 thành viên
  • Trần Văn Pha
  • Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Bài viết > Lưu giữ kỉ niệm >

    Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội (từ năm 1540 đến năm 1788)-phần 2

    1611 - Tân Hợi

    Tháng mười

    - Núi Tản Viên bị sụt lở

     

    1615 - Ất Mão

    - Dời chùa Trấn Quốc từ bãi Yên Hoa giáp sông Hồng vào cạnh hồ Tây, trên nền cũ của cung Thúy Hoa nhà Lý và điện Hàn Nguyên nhà Trần.

     

    1619 - Kỷ Mùi

    Tháng Giêng

    - Cháy to từ sau cửa Tường Phù đến lầu Đoan Môn

     

    Hố khai quật ở giữa Đoan Môn (Nguồn ảnh: internet)
    Hố khai quật ở giữa Đoan Môn (Nguồn ảnh: internet)

     

    1620 - Canh Thân

    - Dân các làng Yên Phụ, Yên Quang, Trúc Yên đắp đê Cố Ngự (giữ vững) cắt ngang phía đông hồ Tây lập thành hồ Trúc Bạch. Cố Ngự sau đọc chệch ra là Cổ Ngư (nay là đường Thanh Niên).

     

    Đường Thanh Niên (Nguồn ảnh: internet)
    Đường Thanh Niên (Nguồn ảnh: internet)

     

    1623 - Quý Hợi

    Tháng sáu

    - Trịnh Xuân - con thứ Trịnh Tùng nổi loạn, đốt kinh thành. Trịnh Tùng phải chạy ra ở làng Hoàng Mai.

    Tháng bẩy

    - Mạc Kính Khoan xâm phạm Gia Lâm, dân 2 xã Đông Dư, Thổ Khối hưởng ứng đi theo họ Mạc hàng vạn người.

     

    1627 - Đinh Mão

    2-7

    - Giáo sĩ Pháp Alếch dăng đờ Rốt (Alexandre de Rhodes) đến Thăng Long truyền đạo Gia-tô. Rốt xin gặp chúa Trịnh Tráng và tặng chúa một chiếc đồng hồ treo có chuông. Lúc này, kinh thành đã có 3 nơi làm nhà thờ đạo Gia-tô.

     

    Alexandre de Rhodes (Nguồn ảnh: internet)
    Alexandre de Rhodes (Nguồn ảnh: internet)

    1628 - Mậu Thìn

    - Mở khoa thi hội, lấy đỗ 18 người. Giang Văn Minh người làng Đường Lâm (nay thuộc thị xã Sơn Tây) đỗ tiến sĩ.

     

    Đền thờ Giang Văn Minh (Nguồn ảnh: Internet)
    Đền thờ Giang Văn Minh (Nguồn ảnh: Internet)

    1630 - Canh Ngọ

    Tháng năm

    - Trịnh Tráng bắt vua Lê Thần Tông phải lấy con gái chúa và lập làm hoàng hậu. Người này đã lấy bác họ nhà vua và đã có 4 con.

    Tháng sau

    - Vỡ đê Yên Duyên, Khuyến Lương (huyện Thanh Trì, nay thuộc quận Hoàng Mai) nước tràn vào kinh thành, ngập đường phường Cửa Nam.

    Tháng chín

    - Dựng 3 tòa cung điện và 16 gian hành lang

     

    1645 - Ất Dậu

    Tháng năm

    - Trịnh Lịch, Trịnh Sâm - con thứ của Trịnh Tráng - nổi loạn, bị bố bắt và giết ở Thăng Long.

     

    1651 - Tân Mão

    - Alếch dăng đờ Rốt phân phát cuốn từ điển Việt - Bồ Đào Nha - Latinh

    và một cuốn giáo lí cương yếu bằng tiếng Việt được latinh hóa xuất bản ở Rôma (Italia), đây là cuốn sách đầu tiên xuất bản bằng chữ quốc ngữ.

     

    1652 - Nhâm Thìn

    - Hoạn quan Hoàng Nhân Dũng nổi loạn, bị giết chết.

     

    1653 - Quý Tị

    - Định kiểu y phục trong nước, chiều dài, chiều rộng theo thứ bậc khác nhau.

     

     Trang phục quan hầu thời Lê (Nguồn ảnh: internet)
    Trang phục quan hầu thời Lê (Nguồn ảnh: internet)

    1659 - Kỷ Hợi

    - Bắt đầu thi Đông Các, đỗ bậc nhất là Đại học sĩ, bậc nhì là Học sĩ, bậc 3 là Hiệu thư.

     

    1663 - Quý Mão

    - Chúa Trịnh Tạc ban chiếu 47 điều giáo hóa

    - Ra lệnh cấm đạo Gia-tô

    - Cấm khắc in, bán, tàng trữ các sách, truyện bằng chữ Nôm.

    - Phân biệt đối xử với người nhà Thanh đến ngụ ở Thăng Long.

     

    1664 - Giáp Thìn

    - Khánh thành điện Chiêu Sự xây trên nền đàn Nam Giao ở phía Nam kinh thành (thuộc thôn Thể Giao cũ, nay là khu vực các phố Thái Phiên - Lê Đại Hành)

    - Chúa Trịnh bắt tất cả sính đồ đã đỗ 3 khoa trước phải thi lại tại bãi sông Hồng. Hơn một nửa bị đánh loại.

    - Đặt lệ thường kỳ hằng năm về hộ đê: tháng mười đi khám đê, từ tháng Giêng đến tháng 3 năm sau đắp lại đê cho xong.

    - Ấn định phép ngũ lượng để cân đong: Thược, cáp, thăng, dấu, hộc.

     

    1665 - Ất Tị

    - Cấm chọi gà, cờ bạc và các việc đồng cốt tăng ni.

     

    1674 - Giáp Dần

    - Định rõ chức vụ của Đề Lĩnh là quan giữ việc sửa chữa cầu cống, đường xá, khai ngòi, tháo nước, cứu hỏa, phòng gian trong kinh thành. Phủ Doãn là quan cai trị, thi hành pháp chế.

     

    1676 - Bính Thìn

    - Đào Công Chính soạn sách “Bảo sinh diện thọ toản yếu” về y học.

    Tháng ba

    - Thi đình, Nguyễn Quý Đức người xã Thiên Mỗ (nay là Đại Mỗ, huyện Từ Liêm) đỗ thám hoa; Phạm Tiến Triều người xã Nam Nguyễn, huyện Phúc Lộc (nay là Phúc Thọ) đỗ hoàng giáp.

    11- 6

    - Nhật thực.

     

    1678 - Mậu Ngọ

    - Đúc tượng đồng đen Trấn Vũ ở quán Trấn Vũ (nay là đền Quán Thánh) nặng 4000 kg, cao 3,76 m.

     

    Tượng đồng Huyền Thiên Trấn Vũ (Nguồn ảnh: internet)
    Tượng đồng Huyền Thiên Trấn Vũ (Nguồn ảnh: internet)

    12 - 6

    - Ban đêm có động đất.

     

    1680 - Canh Thân

    - Thi đình, Nguyễn Công Xán, người xã Thượng Yên Quyết, huyện Từ Liêm và Trần Lương Năng, người xã Thượng Cát đều đỗ tiến sĩ.

     

    1682 - Nhâm Tuất

    24 - 4

    - Tây vương Trịnh Tạc mất, thọ 77 tuổi

     

    1683 - Quý Hợi

    Tháng sáu

    - Bọn Mạc Kính Liêu bị nhà Thanh bắt làm tù binh, nay trao trả tại Nam Quan, được giải về kinh. Vua Lê Hy Tông ngự tại điện Triều Nguyên chấp nhận lời xin tha tội chết của Kính Liêu

    - Trấn thủ Sơn Tây là Nguyễn Công Triều - người làng Đông Lao, huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Đông La, huyện Hoài Đức) đem quân dẹp loạn ở huyện Lập Thạch.

    - Đặng Công Chất, thượng thư bộ Lại, người xã Phù Đổng huyện Tiên Du (nay là Gia Lâm) chết, được truy tặng Thiếu Bảo.

     

    1684 - Giáp Tý

    Tháng  giêng

    - Thi đình, Phạm Quang Trạch, người xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm đỗ bảng nhãn; Trần Thiện Thuận người xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm đỗ tiến sĩ.

    Mồng một tháng tám

    - Vỡ đê sông Nhị, vùng tây bắc Kinh thành bị lụt.

    Tháng mười

    - Tiến phong chúa Trịnh Căn làm Đại nguyên soái tổng quốc chính, thượng thánh vụ sư thịnh công, nhân minh uy đức Định Vương.

     

    1685 - Ất Sửu

    Tháng chín

    - Dĩnh quận công Ngô Hữu Dụng, người xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn (nay là Gia Lâm) chết, được phong tặng thái phó.

    - Nguyễn Mậu Tài, người xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm làm tham tụng, thượng thư bộ Công.

    Tháng chạp

    - Thi hội các công cử, lấy đỗ Nguyễn Danh Dự, người xã Dương Liễu, huyện Đan Phượng (nay thuộc huyện Hoài Đức).

     

    1686- Bính Dần

    Tháng chín

    - Cử Nguyễn Quý Đức làm thiên đô nghị sử.

     

    1687 - Đinh Mão

    - Xây đền vua Thục ở thành cũ Cổ Loa (nay thuộc huyện Đông Anh).

     

    Đền thờ An Dương Vương (Nguồn ảnh: internet)
    Đền thờ An Dương Vương (Nguồn ảnh: internet)

    1688 - Mậu Thìn

    Tháng năm

    - Nguyễn Mậu Tài, tham tụng, thượng thư bộ Công chết, thọ 73 tuổi, được truy tặng thượng thư bộ Lễ, thiếu bảo.

     

    1689 - Kỷ Tỵ

    Tháng giêng

    - Thi đình, Nguyễn Đình Hoàn - người xã Bái Ân, huyện Quảng Đức (nay thuộc quận Ba Đình) đỗ Hoàng giáp

     

    1690 - Canh Ngọ

    Tháng năm

    - Trấn thủ Sơn Tây Nguyễn Công Triều chết, thọ 77 tuổi, có công đánh dẹp giặc, được tặng thái bảo, truy phong phúc thần xã Đông Lao, huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Đông La, huyện Hoài Đức)

     

    1691 - Tân Mùi

    Tháng giêng

    - Nguyễn Viết Thứ, người xã Sơn Đồng, huyện Đan Phượng (nay thuộc huyện Hoài Đức), đỗ tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1664) được cử làm thượng thư bộ Hình

    Tháng hai

    - Trịnh Đức Nhuận, người xã Hoa Lâm, huyện Đông Ngàn (nay là xã Mai Lâm, huyện Đông Anh) đỗ tiến sĩ khoa Bính Thìn (1676) được cử làm thiên độ ngự sử.

    Tháng ba

    - Thi hội các cống sử, Ngô Vi Thực, người xã tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai (nay thuộc huyện Thanh Trì) đỗ hoàng giáp; Đào Quốc Hiển, người xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn (nay là xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm) đỗ tiến sĩ.

     

    1692 - Nhâm Thân

    17 - 2

    - Nhật thực

    Tháng sáu

    - Nguyễn Viết Thứ, tham tụng, thượng thư bộ Hình, một danh thần, người xã Sơn Đồng, chết, truy tặng thượng thư bộ Lại.

     

    1694 - Giáp Tuất

    - Lê Anh Tuấn (1670 - 1726) người làng Thanh Mai, huyện Tiên Phong (nay thuộc huyện Ba Vì) đỗ tiến sĩ.

    Tháng Mười

    - Chúa Trịnh Căn đến nhà Thái học yết tên thánh, làm thơ ca tụng, cho khắc vào bia dựng ở cửa nhà Thái học

     

    1695 - Ất Hợi

    - Nguyễn Quý Đức người xã Thiên Mỗ huyện Từ Liêm được cử làm đô ngự sử. Năm sau vì sử kiện không thỏa đáng, Quý Đức bị xuống ba cấp.

     

    1696 - Bính Tý

    - Lại ra lệnh cấm đạo Gia-tô. Liên tiếp các năm sau, 1712, 1754, 1773 đều có lệnh cấm đạo này.

    - Hiệu thảo Nguyễn Đình Trụ, người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì mở trường dạy học, học trò đông tới hàng nghìn, nhiều người làm nên, được học giả đương thời suy tôn.

     

    1697 - Đinh Sửu

    24 - 4

    - Nhật thực

    Tháng mười

    - Thi hội, Nguyễn Quyền, người xã Cổ Linh, huyện Gia Lâm được đỗ.

    - Thi đình, Nguyễn Trù người phường Đông Các, huyện Thọ Xương đỗ hoàng giáp.

     

    1698 - Mậu Dần

    Tháng hai

    - Cấm đánh bạc. Người chứa chấp và người đánh bạc đều bị phạt.

    - Vũ Thạch mở trường dạy học ở Hào Nam (nay thuộc quận Đống Đa)

     

    1700 - Canh Thìn

    Tháng năm

    - Thi đình, Nguyễn Đình Ức người xã Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, đỗ thám hoa; Tạ Đăng Huân, người xã Đại Phùng, huyện Đan Phượng đỗ hoàng giáp; Trần Toàn, người xã Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, đỗ tiến sĩ.

     

    1703 - Quý Mùi

    Tháng giêng

    - Phong Trịnh Cương, 18 tuổi, làm triết chế phủ Chúa, nối nghiệp họ Trịnh.

    Tháng mười

    - Thi hội, lấy đỗ Nguyễn Trí Cung, người xã Sơn Đồng, huyện Đan Phượng nay thuộc huyện Hoài Đức

    Tháng chạp

    - Thi đình, Nguyễn Quang Nhuận, người xã Phú Thị, huyện Gia Lâm đỗ tiến sĩ. Nguyễn Quang Nhuận hoặc Nguyễn Huy Nhuận, năm 1723 được cử làm phó sứ sang nhà Thanh. Năm 1726 về nước, được phong làm Tả thị lang bộ Hình, tước Triệu quân công. 1728 tham gia lập mốc ở biên giới ở Tuyên Quang với nhà Thanh. 1733, thăng làm thượng thư bộ Công. 1734 làm thượng thư bộ Lễ, thượng thiếu phó, tham tụng phủ liêu.

     

    1704 - Giáp Thân

    - Trịnh Luân, Trịnh Phất âm mưu chống Trịnh Căn đã bị bắt và bị giết tại kinh thành.

     

    1705 - Ất Dậu

    - Đoàn Thị Điểm, người dịch “Chinh phụ ngâm” sau này, ra đời tại Thăng Long.

    Tháng Tư

    - Vua Lê Hy Tông nhường ngôi cho Hoàng thái tử Lê Duy Đường tức Lê Dụ Tông. Vua mới đổi niên hiệu là Vĩnh Thịnh (1705-1720).

     

    1706 - Bính Tuất

    Tháng ba

    - Thi hội, lấy đỗ Đỗ Công Đĩnh, người xã Thượng Tốn huyện Gia Lâm.

    Tháng năm

    - Thi đình, Phạm Quang Dung, người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm đỗ tiến sĩ. Năm 1732, Dung làm sứ thần sang nhà Thanh.

     

    1708 - Mậu Tý

    - Cử Nguyễn Quý Đức làm thượng thư bộ Hình, tước tham tụng. Năm 1714, được ban chức thiếu phó.

    - Bồi đắp đê sông Hồng.

     

    1709 - Kỷ Sửu

    - Chúa Trịnh Căn chết, Trịnh Cương lên thay làm An Độ Vương.

     

    1710 - Canh Dần

    Tháng ba

    - Thi hội, thi đình. Đoàn Bá Dung, người xã Phú Thị, đỗ tiến sĩ. Năm 1729, Bá Dung làm phó sứ sang Thanh, 1734 làm Đô Ngự Sử, 1736 làm Thượng thư bộ Hình.

     

    1711 - Tân Mão

    Tháng ba

    - Chúa cầu lời nói thẳng. Biện lục Nguyễn Công Triều được khen là người nghị luận thẳng thắn, mạnh dạn.

    Tháng chín

    - Thi viết chữ và làm toán.

    Tháng mười

    - Thi võ. Thi hương cho sĩ tử các nơi.

     

    1712 - Nhâm Thìn

    Từ tháng sáu đến tháng chạp

    - Không mưa, dân chúng đói to, phải tước cả vỏ cây, lá trúc mà ăn, người chết đầy đường.

     

    1713 - Quý Tỵ

    Tháng hai

    - Định giá trung bình cho thóc gạo.

    Tháng bảy

    - Mưa dầm không ngớt. Nước sông tràn ngập, vỡ đê ở 13 huyện thuộc Sơn Tây, Sơn Nam, Thanh Hóa.

     

    1715 - Ất Mùi

    - Thi hội, lấy đỗ Nguyễn Công Thái, người xã Kim Lũ, huyện Thanh Trì. Thi đình, Nguyễn Quý Ân, người xã Thiên Mỗ (nay là xã Đại Mỗ) huyện Từ Liêm đỗ tiến sĩ.

     

    1716- Bính Thân

    Tháng tư

    - Thái thượng hoàng Lê Hy Tông mất ở điện Kiến Thọ.

     

    1717 - Đinh Dậu

    - Tuệ Tĩnh, người xã Liễu Tràng (nay thuộc huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương) dâng sách “Nam dược thần hiệu” cho chúa Trịnh.

     

     Tượng Tuệ Tĩnh - người được nhân dân tôn vinh là vị thánh thuốc Nam (Nguồn ảnh: internet)
    Tượng Tuệ Tĩnh - người được nhân dân tôn vinh là vị thánh thuốc Nam (Nguồn ảnh: internet)

    Tháng chạp

    - Định chế độ cho khách buôn nước ngoài: cho phép ở lâu được nhập tịch và chịu tạp dịch ở đó. Phải ăn nói, trang phục, đầu tóc theo phong tục nước ta. Ai làm trái bị trục xuất về nước.

     

    1718 - Mậu Tuất

    - Trịnh Cương đặt ra lục phiên ở phủ Chúa: phiên Lễ, phiên Hình, phiên Binh, phiên Hộ, phiên Công, phiên Lại như sáu bộ của Triều Lê.

    Tháng hai

    - Mở khoa thi, Ngũ Công Tể, người xã Hải Bối, huyện Yên Lãng (nay thuộc huyện Đông Anh) đỗ thi hội; và thi đình đỗ thám hoa.

    Tháng mười nhuận

    - Cấm uống rượu.

     

    1719 - Kỷ Hợi

    - Tiến hành đo ruộng đất

    - Khởi công xây đình xã Bát Tràng, đến năm 1720 mới xong.

     

    Đình làng Bát Tràng (nguồn: internet)
    Đình làng Bát Tràng (nguồn: internet)

     

     

    1720 - Canh Tý

    - Tôn Chúa Trịnh Cương là An Vương, lập Trịnh Khương (tức Giang) làm thế tử.

    - Thái phó Chí Sĩ Liêm quận công Nguyễn Quý Đức chết, thọ 73 tuổi, truy tặng Thái Tể.

    19 - 7

    - Ân xá trong thiên hạ, đổi niên hiệu là Bảo Thái (1720 - 1729).

    Tháng sáu

    - Quy định phẩm phục hành nghi cho các quan văn võ

    4-8

    - Nhật thực

    Tháng tám

    - Ban hành mười điều giáo hoá.

    1.Làm học trò phải chuyên nghề học, hiểu rõ: Lễ, Nghĩa, Trung, Tín

    2. Làm người phải theo đúng luân thường, người cùng họ, thân thích bên ngoại không được lấy nhau.

    3. Quân dân lễ cách, không được ngạo mạn, khinh nhờn.

    4. Đồ mặc, đồ dùng trong dân gian không được tiến vượt.

    5. Chớ quen tục xấu đua nhau phung phí vào cỗ bàn ăn uống.

    6. Chớ mê hoặc dị đoan, đua nhau chơi bời lười biếng.

    7. Việc lễ bái phải tiết độ ở mức trung bình để nêu rõ phong tục kiệm ước

    8 - 10. Nhà có tang ma phải thương xót, cứu giúp lẫn nhau để phong hoá thêm phần hậu.

     

    1721 - Tân Sửu

    Tháng giêng

    - Bỏ luật hình chặt chân tay

    Tháng ba

    - Đình chỉ công việc xây dựng ở trong kinh, ngoài trấn

    5-6

    - Đêm, động đất

    Tháng tám

    - Định phép học võ và thi võ. Lập trường học võ, đặt quan giáo thụ, cho con cháu các công thần và bề tôi. Luyện tập chiến lược trong Võ kinh và các môn võ nghệ. Hàng năm, những tháng mùa Xuân, mùa thu thi diễn tập, bốn tháng trọng (trọng Xuân: tháng Hai, trọng Hạ: tháng Năm, trọng Thu: tháng Tám, trọng Đông: tháng mười một) thi đại tập. Xuân, Thu tập võ nghệ, Đông, Hạ tập văn. Chuẩn bị ba năm một lần thi. Phép thi: khảo qua về binh pháp Tôn Tử, ai thông nghĩa sách thì mới được vào đấu võ nghệ. Môn một: cưỡi ngựa múa thanh mâu dài; môn hai: đánh kiếm, múa khiên; môn ba: múa đao, kỳ chót thi về phương lược quân sự. Trúng cách được dẫn vào sân phủ Chúa thi phúc hạch.

    - Quy định phép thi hương và khảo hạch ở các trường hương học và quốc học. Trường quốc học: dùng Tế tản và Tư nghiệp làm quan giảng dạy. Con cháu các quan văn, võ, công thần được học với các học trò khác. Mỗi tháng thi một kỳ tiểu tập, bốn tháng trọng thi đại tập để khảo các sinh đồ và cử nhân. Trường hương học: dùng Hiệu quan để dạy sinh đồ và đồng sinh tuấn tú trong phủ. Mỗi tháng hai khóa thi khảo. Ai trúng tám kỳ thi khảo mà là sinh đồ thì được miễn kỳ thi khảo hàng năm, còn là đồng sinh thì được vào trường thi hương.

    - Quy định phép chạy trạm ở ven đường. Các nhà trạm có đặt quản giám do bộ Binh trông coi và nắm giữ.

    - Đánh thuế vào các nghề nghiệp.

    Tháng mười

    - Chúa Trịnh Cương đi chơi hồ Tây làm hai bài thơ quốc âm ban cho các quan theo hộ giá (Trịnh Quán, Đặng Đình Tướng, Nguyễn Công Hãng, Lê Anh Tuấn).

     

    1722 - Nhâm Dần

    Mùa xuân

    - Thi đình, Trương Thì người xã Nhân Mục Cựu, huyện Thanh Trì, đỗ tiến sĩ.

    Tháng chín

    - Chúa Trịnh Cương đi chơi phía tây thành Thăng Long xem xét việc gặt mùa, ban cho nông dân trâu, rượu, mọi người nhảy múa, đánh trống vui mừng. Chúa làm bài ca được mùa.

    Tháng một

    - Đặt sáu doanh trung quân gồm tám trăm người cho phủ Chúa.

    - Quy định thuế ruộng, thuế đinh. Thuế ruộng: ruộng công mỗi mẫu nộp tám tiền, thóc hai mùa nộp hai phần ba, một mùa nộp một phần ba. Bãi công mỗi mẫu một quan, hai tiền, trồng dâu nộp nửa số tơ, trồng hoa màu nộp tháng bằng tiền. Ruộng tư hai mùa mỗi mẫu ba tiền, một mùa hai tiền. Thuế đinh: hàng năm mỗi suất đinh nộp một quan hai tiền. Sinh đồ, lão hạng đến năm mươi tuổi, hoàng đinh từ 17 đến 19 tuổi, nộp một nửa.

     

    1723 - Quý Mão

    Tháng mười

    - Bắt đầu đặt khoa thi võ. Những năm Ngọ, Mão, Dậu thi sở cử; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thi bác cử. Cả hai đều ba năm thi một lần.

    Phép thi:

    - Khảo qua về Vũ kinh rồi sau nhiều lần thi đua võ nghệ đến thi một bài văn sách.

    Thi sở cũ (như thi hương): Tỉ thi võ nghệ, ai trúng cách được làm sinh viên (tương đương với sinh đồ). Con cháu các quan trúng cách được làm biền sinh (tương đương với nho sinh). Thi văn sách hợp cách được làm học sinh (tương đương với hương cống). Con cháu các quan được làm biền sinh hợp thức (tương đương với nho sinh trúng thức).

    Thi bác cử (như thi hội, thi đình): Đến kỳ cuối cùng trúng cách được làm tạo sĩ. Qua 3 kỳ được gọi là hạng toát thủ (chọn lấy trước) cũng được bổ dụng như tạo sĩ.

     

    1724 - Giáp Thìn

    Tháng giêng

    - Chúa Trịnh Cương tế đàn Nam Giao

    Tháng ba

    - Thi hội và thi đình

    Tháng một

    - Thi võ khoa bác cử. Chúa Trịnh Cương rước vua Lê tới xem thi

    - Định thể lệ 3 năm làm sổ hộ tịch một lần.

     

    1725 - Ất Tị

    Tháng tám

    - Đổi tên sông Hát thành sông Vân Bảo, sông Tô Lịch thành sông Địa Bảo (để đối với hai sông Nguyệt Đức, Thiên Đức)

    Tháng một

    - Cho dân được phép ca tụng việc tốt hoặc chê bai việc xấu của quan cai trị.

     

    1726 - Bính Ngọ

    - Dựng chùa Liên Phái (nay ở ngõ Liên Phái, phố Bạch Mai) còn gọi là Liên Tông, có tháp lục lăng cao 11 tầng.

     

    Tháp chùa Liên Phái (nguồn: internet)
    Tháp chùa Liên Phái (nguồn: internet)

     

     

    Tháng mười

    - Thi hương. Trường thi Phụng Thiên được lấy trúng tam trường tăng lên 150 người (ngạch cũ lấy 100 người).

    Tháng một

    - Thi lại cống sĩ các xứ ở lầu Ngũ Long, vì có sự gian lận của các con quan. Quận công Nguyễn Công Cơ, người xã Minh Tảo (nay là xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm) phát giác việc này nên được gia thăng thiếu bảo, năm sau lại được làm Thự phủ sứ. Tháng một Quý Sửu (1733) chết, được tặng Thiếu phó. Ông nổi tiếng là quan thanh bần.

    - Định phép khảo cống các xã trưởng. Ai qua hai lần khảo công mới được trao chức phẩm. Định ba năm khảo công một lần.

     

    1727 - Đinh Mùi

    Tháng giêng

    - Duyệt quân ở lầu Ngũ Long

    - Chúa Trịnh tế thần nông ở Xã Đàn

    Tháng ba

    - Thi hội các cống sĩ. Đặng Công Diễn, người xã Phù Đổng, huyện Tiên Du (nay là Gia Lâm) đỗ.

    Tháng năm

    - Thi đình

    Tháng một

    - Chúa Trịnh Cương xây hành cung ở Cổ Bi (Gia Lâm) một tháng thì xong, đặt tên là phủ Kim Thành.

     

    1728 - Mậu Thân

    Tháng mười

    - Thi khoa đông các

    - Được mùa lớn. Chúa Trịnh Cương làm thơ mừng.

     

    1729 - Kỷ Dậu

    Hăm mốt tháng tư

    - Chúa Trịnh Cương ép vua Lê Dụ Tông truyền ngôi cho hoàng thái tử Lê Đế Duy Phường, đổi niên hiệu là Vĩnh Khánh (1729 - 1732).

    Tháng bẩy

    - Nước Đông Cái lên to, vỡ đê ở Cự Linh và nhiều nơi khác, nước tràn ngập đến 3 thước. Nạo vét sông Nghĩa Trụ để cho nước thoát nhanh.

    Hăm tám tháng một

    - Chúa Trịnh Cương mất ở hành cung Cổ Bi, thọ 44 tuổi.

     

    1730 - Canh Tuất

    Tháng hai

    - Cấm các tướng chế tạo vũ khí khác thường.

    - Giảm thuế cửa quan và bến đò, triệt bỏ hai sở tuần Thanh Trì và kinh kỳ.

    Tháng tư

    - Phong Trịnh Giang làm Uy Nam vương.

    - Làm nhà voi, chuồng ngựa ở kinh đô.

    Tháng sáu

    - Cấm trong nhà chứa các sách thiên văn, tinh tú, chiêm tinh, tượng vĩ (sấm ký).

    15-7

    - Nhật thực

    29-7

    - Nhật thực

    - Cấm các quan văn võ kết giao bè đảng.

    Tháng một

    - Dỡ gỗ ở hành cung Cổ Bi, đóng bè thả xuôi về Chí Linh, Đông Triều xây chùa Sùng Nghiêm và chùa Quỳnh Lâm.

     

    Chùa Quỳnh Lâm (nguồn: internet)
    Chùa Quỳnh Lâm (nguồn: internet)

    1731 - Tân Hợi

    4-7

    - Nhật thực.

    Tháng mười

    - Thi hội, lấy đỗ Nguyễn Bá Lân, người xã Cổ Đô, huyện Tiên Phong (nay thuộc huyện Ba Vì).

    Tháng một

    - Thi đình, Nguyễn Bá Lân đỗ tiến sĩ.

    Rằm tháng một

    - Nguyệt thực.

     

    1732 - Nhâm Tí

    Tháng hai

    - Đình chỉ các ngạch thuế thổ sản

    - Quy định văn kinh nghĩa trong kỳ thi hương, thi hội dùng thể thức văn bát cổ. Bát cổ là lối văn phải làm 8 vế đối nhau có từ đời Minh Hiến Tông (1487)

    Tháng ba

    - Sửa định lễ coi triều và sáng chế lễ nhạc dùng trong phủ chúa.

    - Chúa Trịnh Giang đến Quốc Tử Giám bái yết tiên thánh, đem dâng cúng nhạc khí mới chế.

    8-6

    - Nhật thực.

    3-10 (rằm tháng tám)

    - Nguyệt thực.

    14-10 (hai sáu tháng tám)

    - Chúa Trịnh Giang truất ngôi vua của Lê Duy Phường vì tội hoang dâm, càn rỡ, lập con trưởng của Lê Dụ Tông là Duy Tường lên thay, tức vua Lê Thuần Tông, đổi niên hiệu là Long Đức. Vua Vĩnh Khánh (Lê Duy Phường) sau khi bị phế truất, bị chúa giết bằng cách thắt cổ vào tháng chín Ất Mão (1735) ở xã Kim Lũ, huyện Thanh Trì.

    Tháng một

    - Bãi thuế muối.

    Tháng chạp

    - Chúa Trịnh Giang cho đặt hòm nhận đơn khiếu tố, kêu oan.

    - Lửa trong đất phát ra ở xã Bát Tràng (Gia Lâm). Quán trọ ở Bát Tràng có khách trọ vô tình vứt lửa vào khe hở, lúc đầu tháng phát sóng xanh rồi lửa cháy to hơn 1 tháng mới tắt.

     

    1733 - Quý Sửu

    Tháng Giêng

    - Cấm xây cất chùa quán, đắp tượng.

    Tháng Hai

    - Bãi lính tình nguyện.

    Tháng Tư

    - Thi Hội.

    Tháng Năm

    - Thi Đình.

    Tháng Tám

    - Bãi bỏ chức quan Hà đạo (khám sự bồi lở đất bãi).

     

    1734 - Giáp Dần

    Tháng Giêng

    - Khắc in sách Ngũ kinh để khỏi mua của Trung Quốc, chúa làm bài tựa. Sai chứa ván khắc ở nhà Quốc học.

    Tháng Năm

    - Cấm quan quân và dân thường dùng đồ vật hoa mỹ, chạm khắc chữ triện. Thợ không được chế tạo thứ lạ, thứ khéo đem bán.

    Tháng một

    - Tấn phong chúa Trịnh Giang làm Đại nguyên soái thống quốc thượng sư thái phụ thông đức anh nghị thánh công Uy vương.

     

    1735 - Ất Mão

    Rằm tháng tư

    - Vua Lê Thuần Tông mất, chúa lập con thứ vua là Lê Duy Thận lên ngôi Hoàng đế (tức Lê Ý Tông) đổi niên hiệu là Vĩnh Hựu.

    16-10

    - Nhật thực.

     

    1737 - Đinh Tị

    Tháng Giêng

    - Nhật thực.

     

    1738 - Mậu Ngọ

    - Lê Duy Mật nổi dậy chống nhà Trịnh, mưu đốt kinh thành nhưng không thành, bỏ chạy vào Thanh Hóa.

     

    1739 - Kỷ Mùi

    8-7

    - Nguyệt thực.

    - Chúa Trịnh Giang cuối đời lười chính sự, thích rong chơi, dâm loạn, cho xây cung Thưởng Trì ở xã Hoàng Mai huyện Thanh Trì, ở sâu dưới đất.

     

    1740 - Canh Thân

    Tháng Giêng

    - Trịnh Doanh đoạt quyền tại phủ chúa. Vua Lê tiến phong Trịnh Doanh làm nguyên soái tổng quốc chính Minh đô vương. Tôn Trịnh Giang làm Thái thượng vương.

    - Kinh thành bị đói to, mười ngày phải phát chuẩn cho dân một lần.

    Tháng ba

    - Bãi lệnh xây hành cung ở các chùa Quỳnh Lâm, Hồ Thiên, Long Hòa, Tây Phương, Tử Trần. Đem những ruộng đất đã xâm chiếm trả cho dân.

    Hăm mốt tháng năm

    - Loạn lạc nổi lên khắp nơi. Chúa Trịnh Doanh xin vua Lê trả ngôi cho dòng trưởng là Lê Duy Diêu. Duy Diêu lên ngôi (tức Lê Hiển Tông), tôn vua Ý Tông là Thái thượng hoàng. Đổi niên hiệu là Cảnh Hưng.

     

    1744 - Giáp Tị

    - Trịnh Doanh dựng lầu Ngũ Long trong phủ chúa.

    - Bùi Huy Bích sinh ở làng Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì. Tổ tiên Bùi Huy Bích vốn ở làng Định Công, cùng huyện, sau di cư sang làng Thịnh Liệt. 19 tuổi, ông đậu giải nguyên (1762) sau theo học Lê Quý Đôn. Khoa thi năm Kỷ Sửu 1769 đỗ hoàng giáp, từng làm Hành tham tụng trong phủ chúa, sáng tác và biên khảo nhiều tác phẩm. Hiệu là Tồn Am.

     

    1746 - Bính Dần

    25-10

    - Ngô Thì Nhậm sinh ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì. Ông là con Ngô Thì Sĩ, trong dòng họ nổi tiếng có nhiều văn gia. Ông đậu tiến sĩ và làm quan dưới triều Lê - Trịnh, nhưng sau theo Tây Sơn và giúp Nguyễn Huệ rất đắc lực trong các công việc chính trị, quân sự, ngoại giao, được sử sách ghi công.

     

    1748 - Mậu Thìn

    - Nguyễn Hữu Cầu khởi nghĩa từ Hải Đông, đem quân đánh vào bến Bồ Đề (nay thuộc phường Bồ Đề, quận Long Biên). Nguyễn Hữu Cầu còn được gọi là Quận He.

     

    1749 - Kỷ Tị

    - Khởi công tu sửa lớn thành Đại La. Lúc này, thành có tên là Đại Độ, mở 8 cửa thông ra ngoài, mỗi cửa đặt 2 ô tả, hữu. (Ô Quan Chưởng còn tới ngày nay là một di tích của cửa ô này).

    1750 - Canh Ngọ

    - Ban hành lệ ai nộp tiền “thông kinh” thì được đi thi hương không phải qua kỳ sát hạch, tạo ra nạn tham nhũng trong giới quan trường coi thi.

     

    1751 - Tân Mùi

    - Bắt các cống sĩ mới đỗ phải thi lại ở lầu Ngũ Long. Hơn 200 người bị đánh hỏng.

     

    1755 - Ất Mùi

    - Trịnh Doanh lại cho dựng cung miếu ở Cổ Bi (nay thuộc huyện Gia Lâm).

     

    1762 - Nhâm Ngọ

    - Đặt quan trông nom trường đúc tiền ở Nhật Chiêu (nay là phường Nhật Tân, quận Tây Hồ) và Ô Cầu Dền.

    - Định lệ 12 năm một lần thi viết chữ và tính toán.

    - Bổ nhiệm Nguyễn Bá Lân và Lê Quý Đôn làm học sĩ trong bí thư các (kho sách) ở Quốc Tử Giám.

     

    1765 - Ất Dậu

    - Nguyễn Du sinh ở phường Bích Câu, Thăng Long.

     

    1767 - Đinh Hợi

    Tháng Giêng

    - Trịnh Sâm nối nghiệp chúa, tước hiệu Tĩnh Đô Vương.

     

    1768 - Mậu Tí

    - Năm sinh Phạm Đình Hổ, người làng Đan Loan huyện Đường An (nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Ông có tên là Tùng Niên, hiệu là Đông Dã Tiều, có nhà riêng ở phường Hà Khẩu (Hàng Buồm ngày nay). Ông là tác giả của nhiều sách nghiên cứu, biên khảo và văn thơ giá trị như An Nam chí, Lê triều hội điển, Vũ trung tùy bút  - tập ký giá trị viết về Thăng Long thời Lê - Trịnh.

     

    1769 - Kỷ Sửu

    - Chúa Trịnh Sâm truất ngôi thế tử Lê Duy Vĩ, giam vào ngục rồi sau giết đi.

     

    1771 - Tân Mão

    - Trịnh Sâm dỡ chùa Bảo Lâm ở phía Tây kinh thành, đem tu bổ vào chùa Đại Bi ở Nghi Tàm (nay thuộc phường Quảng An, quận Tây Hồ). Chùa Đại Bi xây từ năm 1639. Tu bổ xong được đặt tên là chùa Kim Liên.

    Chùa Kim Liên (nguồn: internet)
    Chùa Kim Liên (nguồn: internet)

    - Dựng chùa Tiên Tích ở cửa Đại Hưng (nay ở đường Lê Duẩn, gần ga Hà Nội).  

     

     

    1773 - Quý Tị

    - Lê Quý Đôn viết xong “Vân đài loại ngữ”.

     

    1774 - Giáp Ngọ

    - Dựng y miếu ở gần Văn Miếu thờ các vị tổ của nghề y phương Đông, sau thờ cả Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, hai danh y Việt Nam.

     

    1776 - Bính Thân

    - Xây dựng nhà thủy đình để biểu diễn múa rối nước ở gần làng Gióng (Phù Đổng, nay thuộc huyện Gia Lâm).

     

    1777 - Đinh Dậu

    - Nguyễn Thế Lịch dâng vua 2 bộ sách thuốc: Tiểu nhi khoa và Thai tiên điều dưỡng phương pháp.

     

    1779 - Kỷ Hợi

    - Phạm Huy Ôn dạy học ở Đông Ngạc (huyện Từ Liêm). Viết bộ sách “Chỉ minh lập thành toán pháp” gồm 4 cuốn, sách toán thực hành đo đạc ruộng đất.

     

    1780 - Canh Tí

    - Trịnh Khải nổi loạn, phản đối Trịnh Sâm “bỏ trưởng lập thứ” bị bắt giam.

     

    1781 - Tân Sửu

    - Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đến Thăng Long chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán. Ông viết “Thượng kinh ký sự” (ghi những điều thấy ở kinh đô).

     

    1782 - Nhâm Dần

    Tháng mười

    - Kiêu binh nổi dậy phản đối việc lập Trịnh Cán còn nhỏ tuổi lên làm chúa, giết đại thần Hoàng Đình Bảo và mẹ của Cán là Đặng Thị Huệ, phá nhà giam đưa Trịnh Khải ra lập làm chúa.

    1784 - Giáp Thìn

    - Binh lính Tam phủ (Thanh - Nghệ - Tĩnh) lại nổi dậy phản đối sự ức chế của bọn quan lại cầm đầu trong phủ chúa là Nguyễn Lệ, Dương Khuông, Nguyễn Triêm. Kinh thành rối loạn.

     

    1785 - Ất Tị

    - Lý Văn Phức sinh ở phường Hồ Khẩu (Làng Hồ - Bưởi)

    - Đắp thành đất chung quanh hoàng thành, chu vi 7.762, chung quanh có 21 cửa ô.

     

    1786 - Bính Ngọ

    20-7 (hăm lăm tháng sáu)

    - Nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy ra Thăng Long lần thứ nhất; đánh tan quân Trịnh ở bến Thúy Ái.

    21-7 (hăm sáu tháng sáu)

    - Nghĩa quân Tây Sơn chiếm phủ chúa, lật đổ nền thống trị của họ Trịnh sau 241 năm áp chế chính triều của vua Lê (1545 - 1786) và ngự trị ở Thăng Long 194 năm (1592 - 1786).

    4-8 (mười một tháng bảy)

    - Lễ cưới Quang Trung Nguyễn Huệ với công chúa Lê Ngọc Hân được tổ chức trọng thể tại phủ chúa ở Thăng Long.

    Mồng năm tháng tám

    - Nguyễn Nhạc ra Bắc Hà, đến Thăng Long

    Mười bảy tháng tám

    - Quân Tây Sơn rút khỏi Thăng Long trở về Phú Xuân (Huế)

    - Lê Chiêu Thống trả thù, sai đốt phá hết các lâu đài, cung điện ở phủ chúa, các ly cung và biệt viện của nhà Trịnh ở khắp kinh thành.

    - Lê Hữu Trác hoàn thành bộ sách thuốc quý “Hải thượng y tông tâm lĩnh”.

     Tháng một

    - Trịnh Bồng vây thành Thăng Long, đánh bại quân của Trịnh Đệ ở Xã Đàn (nay thuộc quận Đống Đa).

     

    1787 -  Đinh Mùi

    - Hoàng Phùng Cơ nổi dậy ở Sơn Tây, đem quân về uy hiếp Thăng Long bị Nguyễn Hữu Chỉnh đánh tan ở xã Đại Phùng (nay là xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng). Cơ bị đóng cũi đưa về Thăng Long sau bị bức uống thuốc độc chết.

    - Lê Chiêu Thống vét các chuông đồng, tượng đồng ở các đền chùa để đúc tiền.

    Một tháng Chạp

    - Vũ Văn Nhậm chỉ huy quân Tây Sơn vào Thăng Long đánh Nguyễn Hữu Chỉnh, chấm dứt vai trò của vua Lê Chiêu Thống. Thăng Long bắt đầu thuộc quyền nhà Tây Sơn.

     

    1788 - Mậu Thân

    Tháng tư

    - Nguyễn Huệ ra Thăng Long lần thứ hai, diệt Vũ Văn Nhậm lộng quyền.

    Tháng một

    - Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm duyệt binh lớn ở bến sông Hồng rồi rút quân lui về trấn giữ phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh Bình, Thanh Hóa) để bảo toàn lực lượng.

    16-12 (mười chín tháng một)

    - Quân Mãn Thanh do Tôn Sĩ Nghị tổng chỉ huy kéo vào chiếm Thăng Long, đóng đại bản doanh ở khu vực cung Tây Long cũ. Làm cầu phao ở bến Bồ Đề nối liền doanh trại ở hai bờ sông Hồng để yểm quân.

    - Lê Chiêu Thống, tên vua bán nước, được nhà Thanh phong làm “An Nam quốc vương”.

     

    Nhà văn Giang Quân

    (Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Năm tháng và sự việc)

     


    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 08:02 14/09/2009
    Số lượt xem: 68
    Nhắn tin cho tác giả
    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 10:42 24/10/2009
    Số lượt xem: 2600
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến