Thông tin

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    NoiNayCoAnhSonTungMTP4772041.mp3 Bai_lam_so_3.flv Bai_thi_so_2.flv Bai_lam_so_1.flv Earth_hour_is_not_turn_off_lights_and_burn_candles.jpg Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Giac_mo_trua8.swf Trian1.swf Tim_ve_dai_duong.swf Hatinhminhthuong.swf Kiniemmaitruong.swf Hmtuht.swf CRVIETNAM.swf QuehuongtoiB.swf VMai_chucmung831.swf 1329139651_17.jpg H_n_year_ht.swf Khuc_nhac_giang_sinh1.swf Bai_ca_nguoi_giao_vien_nhan_dan.swf Clock_hoacucvang_thang111.swf

    Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Chào mừng bạn đến với website của Đoàn Thị Hồng Điệp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Nữ lưu Đất Việt >

    Trần Thị Dung (?-1259):

    Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung (?-1259) là người con gái, xuất thân bình dân, đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong buổi đầu dựng nghiệp của nhà Trần và trong sự nghiệp giữ nước sau này.Quê bà ở làng Phù Ngự (làng Ngừ) xã Liên Hiệp, thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

    Bố là Trần Lý- anh rể của Tô Trung Tự, môt viên quan có thế lực của triều Lý. Anh cả là Trần Thừa, anh thứ là Trần Tự Khánh, bà là con thứ 3, em út là Trần Tam Nương. Bà là con đẻ của 2 dòng tộc Trần – Tô. Dòng Trần làm ăn kinh tế phát đạt. Dòng Tô có uy tín trong triều đình.

    Thuở còn con gái, bà đã được cha mẹ giao cho quản lý một trang ấp riêng gọi là ấp Ngừ và bà đã làm chủ được cơ ngơi nhỏ bé của riêng mình.

    Bà Trần thị Dung có tên gọi là cô Ngừ, đặt tên theo một loại cá, để nhắc đến nguồn gốc của dòng họ nhà Trần từ nghề đánh cá. Những tên gọi theo loại cá, đến nay còn phổ biến ở xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

    Trần Thị Dung không chỉ có tài đảm đang quản lý kinh tế, không chỉ có sắc đẹp mà còn là người con gái “đức-tri-uyên-truyền” những phẩm chất trên đã được ghi trên bức đại tự tại đền thờ của bà ở làng Ngừ, xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

    Về chính trị, thông qua cậu ruột, Trần Thị Dung đã nhìn rõ sự suy sụp trong triều đình nhà Lý và cũng có một niềm tin thế lực họ Trần đang ngày càng lớn mạnh.

    Năm 1209, đã trở thành một mốc quan trọng trong cuộc đời bà Trần Thị Dung - mở đầu con đường trở thành Hoàng hậu của chiều Lý, mở đầu quãng đời đầy sóng gió trên con đường mở nghiệp nhà Trần.

    Tháng 7 năm 1209, Quách Bốc gây biến loạn trong triều đình, vua Lý Cao Tông phải chạy lên Quy Hoá (Phú Thọ). Hoàng tủ Sảm theo Tô Trung Tự về Ngự Thiên, Long Hưng lánh nạn. Tại đây Hoàng từ Sảm đã say mê Hoàng Thị Dung. Chính sử Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Hoàng thái tử đến thôn Lưu Gia, ở miền biển, nghe thấy con gái của Trần Lý có sắc đẹp lấy làm vợ”. Lúc ấy Hoàng thái từ mới 15 tuổi. Đám cưới không có nghi thức của triều đình. Vì đang còn loạn lạc, mẹ chồng Hoàng thái hậu chưa ưng, nhưng phải nghe vì lo cho thân phận của mình.

    Sau khi lấy Trần Thị Dung, hoàng tử Sảm phong cho Trần Lý (bố vợ) tước Minh Tự, cho Tô Trung Tự làm Điện tiền chỉ huy sứ. Với chức tước trên, anh em họ Trần, họ Tô họp hương binh để dẹp loạn rước vua về kinh sư, khôi phục chính triều.

    Nhưng éo le thay, sau khi Lý Cao Tông về kinh đô, nghe lời vợ, Hoàng thái hậu họ Đàm.

    “Vua sai Thượng phẩm phục ngự là Đử Quang đem quân dến nhà Tô Trung Tự đón Hoàng Thái tủ về kinh sư, còn người con gái Trần Thị thì về nhà cha mẹ” không được vua chấp nhận, bà đành ngậm ngùi chia tay chồng, trở về nhà cha mẹ đẻ. Sự kiện trên diễn ra vào tháng 3 năm 1210.

    Tháng 10 năm 1210, nghĩa là 7 tháng sau sự kiện trên, thì tình hình lại đổi khác. Vua Lý Cao Tông chết. Hoàng tử Sảm lên ngôi trước linh cữu cha. Ông lấy hiệu là Lý Huệ Tông. Với quyền lực trong tay, ông mang thuyền rồng đi đón Trần Thị Dung. Nhưng Trần Tự Khánh can ngăn vì đang thời loạn.

    Mãi đến tháng 2 năm 1211, Trần Thị Dung mới chính thức rời quê hương Ngự Thiên, Long Hưng, theo chồng kề kinh trước sự đố kỵ của cả một vương triều. Dưới con mắt hoàng tộc nhà Lý, Trần Thị Dung chỉ là một cô gái quê mùa, tuy có đôi chút sắc đẹp. Hơn thế, họ có cảnh giác với cô, vì họ đố kỵ với Trần Tự Khánh, Tô Trung Tự, Trần Thủ Độ.

    Với quyền lực của mình, Lý Huệ Tông phong bà làm Nguyên Phi. Tô Trung Tự làm Thái uý phụ chính, Trần Tự Khánh là Chương Thành hầu. Như vậy, từ năm 1211 bốn nhân vật dòng họ Trần, Tô đã ở vị trí quan trọng trong triều đình nhà Lý. Nhà Trần chính thức trở thành họ ngoại của nhà vua.

    Cũng thời gian này, tình hình xã hội ngày càng rối ren. Triều đình cho Đoàn Thượng đi đánh dẹp. Nhưng cho con Đoàn Thượng, Đoàn Văn chống lại. Vua Lý cho anh em nhà Trần đi dẹp loạn Đoàn Thượng. Họ đã thắng, làm chủ cả vùng đất Hà Bắc, Nam Định, Thái Bình.

    Sau đó, ở kinh đô, họ Trần, họ Tô, xin vua ra khỏi kinh đô, cùng quân đội đi dẹp loạn. Vua và Hoàng hậu không nghe, nghi ngờ họ Trần, họ Tô phản trắc, xuống chiếu cho các nơi góp quân cho vua đánh dẹp họ Trần, họ Tô. Mối nghi ngờ càng tăng sau khi 2 lần Trần Tự Khánh đến cửa khuyết xin đón xa giá (lần thứ nhất vào tháng 2 năm 1213, lần thứ 2 vào tháng 1/1214). Sự ngờ vực đã giáng tai hoạ xuống đầu Trần Thị Dung. Trần Thị Dung từ Nguyên phi bị đẩy xuống làm Ngự nữ (đầu năm 1213).

    Mặc dầu vậy, họ Trần, họ Tô vẫn cứ đi dẹp loạn. Tháng 5 năm 1214, họ thắng Đinh Khả và Bùi Đô ở châu Đại Hoàng. Trần Thị Dung thuyết phục vua Lý Huệ Tông bỏ được mối nghi ngờ. Sau đó đưa họ Trần họ Tô vào làm việc trong kinh đô. Mùa xuân năm 1216, Lý Huệ Tông lại phong Trần Thị Dung từ Ngự nữ lên phu nhân Thuận Trinh.

    Trước sự kiện trên, thái hậu họ Đàm đã nhiều lần đinh ám hại Trần Thị Dung. Bà đã nhiều lần xui vua đuổi phu nhân Thuận Trinh đi, có lần bỏ thuốc độc vào món ăn của bà, có lần sai người cầm chén thuốc độc bắt bà phải tự tử… Ngược lại, Lý Huệ Tông vẫn đứng ra bảo vệ bà, bảo vệ tình yêu của mình. Sử xưa chép “Mỗi bữa ăn vua chia ra cho phu nhân một nửa và không lúc nào rời bên cạnh.”

    Trong đời tư của Trần Thị Dung với Lý Huệ Tông có hai sự kiện khá đặc biệt. Đó là lúc bà làm vợ và lúc bà làm mẹ. Nếu tháng 7 năm 1209 Trần Thị Dung làm vợ hoàng tử Sảm khi hoàng tử đang lánh nạn tại quê nhà thì đến tháng 6 năm 1216, bà đã làm mẹ trong bối cảnh vua phải bảo vệ bà trước sự đố kỵ của mẹ (Hoàng thái hậu họ Đàm). Do vậy bà Trần Thị Dung phải sinh nở công chúa Thuận Thiên tại bãi Cửu Liên (Văn giang, ngoại thành Hà Nội).

    Sau khi làm mẹ, vị trí của bà được ổn định hơn, bà lại được phong là từ phu nhân Thuận Trinh lên Hoàng hậu nhà Lý. Sau đấy, vua phong cho Trần Tự Khánh làm thái uý phụ chính, Trần Thừa làm nội thị phán thủ.

    Để được phong hoàng hậu nhà Lý, Trần Thị Dung đã phải trải qua 7 năm dòng dã với biết bao éo le, trắc trở. Bà đã vượt lên cả cái chết để giành lấy cho mình một địa vị cao trong vương triều nhà Lý.
    Tháng 3 năm 1217 vua Lý Huệ Tông mắc chứng điên “chính sự không biết đến, giao phó cho Trần Tự Khánh. Quyền hành lớn trong nước dần về tay người khác” (tay nhà Trần). Các thế lực chống đối lại anh em nhà họ Trần. Đoàn Thượng và Nguyễn Nộn – tuy vẫn còn hoàng hành nhưng cũng không xoay chuyển được tình thế. Anh em họ Trần vẫn giữ được Thăng Long, giữ được ngôi vua Lý, giữ vững sự thống nhất đất nước. Với những chiến công đánh dẹp các thế lực cát cứ. họ Trần từng bước đoạt quyền hành về tay mình.

    Tháng 9 năm 1218, Trần Thị Dung sinh công chúa Chiêu Thánh, sau là Lý Chiêu Hoàng.

    Năm 1223, Trần Tự Khánh chết, thì năm sau bệnh vua ngày càng tăng. Trần Thủ Độ được uỷ nhiệm làm chỉ huy sứ lãnh các quân điện tiền và hộ vệ cấm đình. Đến lúc này mọi quyền lực của triều đình thực tế thuộc về họ Trần.

    Trước tình hình bệnh tình của vua ngày càng nguy ngập, mà Lý Huệ Tông không có con trai, nên mùa đông năm này, ngôi vua đã nhường lại cho Lý Chiêu Hoàng (con gái thứ 2) khi ấy mới 6 tuổi. Trần Thị Dung đã trở thành Hoàng Thái hậu của một vị vua thơ dại. Chiêu Thánh lên ngôi lấy hiệu là Chiêu Hoàng được 2 năm thì đến ngày 6/1/1226 (tức ngày 1-12 năm Mậu Dần) với sự đạo diễn của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng đã chút bỏ áo ngự, mời Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế - hợp thức hoá sự thống trị của một triều đại mới- triều đại nhà Trần. Đến đây, kết thúc một chặng đường lịch sử, chuyển hóa từ vương triều nhà Lý sang vương triều nhà Trần. Trong buổi đầu dựng nghiệp ấy, Trần Thị Dung thực sự là sợi dây liên lạc nối nhà Lý với họ Trần. Chính bà là tác nhân quan trọng đẩy nhanh sự hoàn thiện của quá trình chuyển hoá ấy. “Thế mới biết, trời sinh ra Linh từ cốt để mở nhà Trần” Lời đánh giá ấy với Trần Thị Dung quả là xác đáng!

    Tháng 8 năm 1226, để củng cố sự vững mạnh của vương triều Trần, nên sau khi Lý Huệ Tông mất, Trần Thị Dung (lúc này gọi là Công chua Thiên cực) đã đồng ý lấy Trần Thủ Độ - vị quan Thái sư đầu tiên triều Trần. Vua cấp đất cho ở vùng đất xứ Lạng. Từ địa vị vợ vua Lý, Trần Thị Dung trở thành vợ quan Thái sư, tuy có bị hạ thấp song củng cố được quyền lực cho triều Trần. Dù sao bà vẫn là mẹ vợ của vua Trần Thái Tông

    Năm 1237, sau mười năm thiết lập vương triều Trần, Trần Thái Tông (theo sự tham mưu của Trần Thủ Độ và Trần Thị Dung) đã lấy Thuận Thiên, đang có mang với Trần Liễu, để có con nối nghiệp đế vương. Lý Chiêu Hoàng trở thành hoàng hậu, nay bị giáng làm công chúa, Trần Liễu tức giận, tập hợp tám vạn quân do Phùng Tá Thang làm quân sư, từ Ngự Thiên về Thăng Long đánh lại Trần Thủ Độ và Trần Thái Tông. Trước tình hình ấy, Trần Thị Dung đã đứng ra dàn xếp, để hai chị em Chiêu Thánh, Thuận Thiên đồng tình với Trần Thủ Độ. Trần Liễu phải theo lệnh vua, lệnh Thái sư. Trần Liễu được lấy người khác, được phòng ấp. Do đấy Trần Liễu bãi binh. Về danh nghĩa, tám vạn quân này bị xử tội nhưng thực tế được đối xử như dân binh. Phùng Tá Thang đưa đội quân này về đống ở Bát đồn trang (nay thuộc xã Thuỵ Dũng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình). Sau này đa số quân đội của Trần Liễu đã tham gia vào đội quân Tinh cương chiến đấu chống giặc Nguyên – Mông. Xâm lược.

    Hai mươi năm sau, bà Trần Thị Dung tuy không được sử sách nói nhiều, nhưng đã sống cùng Thái sư Trần Thủ Độ, lúc ở Thăng Long, lúc ở Thanh Hoá, lúc ở Lạng Giang, Thiên Trường, nghĩa là theo chồng lo việc triều đình, lo việc chăm dạy các cháu, con của Trần Thái Tông và Thuận Thiên. Bà cũng đã có những nửi buồn khi Thuận Thiên qua đời, có niềm vui khi Chiêu Thánh lấy Lê Phụ Trần. Bà giao chi Chiêu Thánh phần đất được phong ở Lạng Giang, khi qua đời Chiêu Thánh được chôn cất ở nơi đây.

    Hai năm cuối đời 1258, 1259, bà Trần Thị Dung đã tham gia vào cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông xâm lược lần thứ 2. Đây là quãng đời vất vả, gian truân và cũng vẻ vang nhất của bà. Rất nhiều danh tướng yên tâm lo việc đánh giặc vì bả đảm đương việc sơ tán của Hoàng tộc, bảo vệ tính mệnh, tài sản của vương triều với rất nhiều hoàng hậu, cung phi, thái tử, hoàng tử, công chúa… Về sự kiện lịch sử này, nhà sử học Ngô Sỹ Liên ghi; “Khi kinh thành thất thủ, Linh từ ở Hoàng Giang giữ gìn Hoàng Thái Tử, cung phi, công chúa và vợ con các tướng lĩnh thoát khỏi giặc cướp” . Nhà văn Trúc Khê tác giả cuối “Trần Thủ Độ - Danh nhân truyện ký” (NXB Hà Nội - 1998) kể rằng:

    “Trận ấy, trong khi quân giặc vào chiếm cứ kinh thành, cung quyền và những quyến thuộc của các vương công đại thần, đã do đường thuỷ chạy xuống ẩn náu ở Hoàng Giang, một con sông ở huyện Nam Xang thuộc tỉnh Hà Nam bây giờ. Người đứng đầu để trông non che trở cho bọn người đi lánh nạn ấy là bà Linh từ Quốc mẫu họ Trần, phu nhân của quan Thái sư Trần Thủ Độ. Trong dịp này người ta được thấy rõ bà là người có trí đảm đương, có tài tháo vát, khác hắn với những người đàn bà tầm thường. Thuyền chạy loạn lục ấy có đến hàng trăm, nào là vợ con của những tướng tá ngoài mặt trận. Trong lúc vội vàng chạy đi, nhiều người lương thực không đem theo đủ, bà bắt người nhiều phải san cho người ít, người có phải bán cho người không, lại đi mua, kiếm đem về để cung cấp cho ai nấy không phải thiếu thốn những nhu cầu thiết yếu. Đêm đến bà truyền cho quân cấm vệ hiệp với những gia đình của mọi nhà đi lánh nạn, lúc nào cũng dự bị sẵn đề phòng có sự biến bất ngờ xảy ra. Bà bắt họ phải cắt lượt nhau thức, đánh trống gõ mõ cầm canh, giữ sự trị an cho cái xóm nước mới lập ấy, ai sơ xuất sẽ lấy nghiêm hình trị tội.

    Một buổi gần tối, có ả nữ tỳ trong một chiếc thuyền nhà quan kia lên bờ có việc, bị một tên cấm binh theo sau trêu gẹo; bà được tin truyền bắt tên cấm binh, tra hỏi đích thực rồi lập tức sai đem chém đầu. Vì thế, binh tránh đều phải nép phục trước uy của bà mà bọn trộm cướp thấy bà phòng ngừa cẩn mật, cũng không dám bén bảng đến cái xóm ấy.

    Bà lại sai quân đi khám xét tất cả các thuyền, moi ra được binh khí của mọi nhà giấu giếm. Bà tịch thu những binh khí ấy, giữ lấy một phần phòng quân hộ vệ có phải dùng đến, còn bao nhiều bà sai đưa tất cả đến nơi quân thủ đề tướng sỹ dùng.

    Nhờ ở tài nội thị khôn ngoan chu đáo của bà, mà từ vua quan đến tướng sĩ ở tiền tuyến đều được vững tâm, sự thắng trận cũng là do một phần ở đấy”.

    Triệt để thực hiện “vườn không nhà trống”, bà Trần Thị Dung đã bảo toàn được lực lượng, đồng thời không để cho lương thực, vũ khí lọt vào tay kẻ thù. Cho đến nay nhiều nhà nghiên cứu đi điền dã những vùng sơ tán do bà bố trí cũng phải ngạc nhiên vì sự chín chắn, lo xa, tiến lùi cơ động để vô hiệu hoá những cuộc truy quét của giặc… Thành công trong chỉ đạo cuộc rút lui phòng ngự của bà Trần Thị Dung đã góp phần không nhỏ cùng cả nước trống quân Nguyên Mông thắng lợi ngay lần kháng chiến đầu tiên, và để lại những kinh nghiệm vô giá cho hai cuộc kháng chiến sau này (1285-1288).
    Từ Phụ Ngự (Ngự Thiên – Long Hưng) Trần Thị Dung ra đi mở nghiệp cho nhà Trần, với 50 năm, không mệt mỏi, vượt lên mọi hy sinh, gian khổ, đem lại vinh quang cho họ Trần, nhà Trần buổi đầu dựng nghiệp.

    Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung tạ thế tháng giêng năm Thiệu Long thứ 2 (1259) đời vua Trần Thánh Tông. Thể theo ước nguyện của bà, hoàng tộc nhà Trần đưa bà về trôn cất ở quê hương, 5 năm sau, Thái sư Trần Thủ Độ qua đời, người đương thời đã xây lăng ông ngay cạnh ngôi mộ của bà.

    Trên đất Thái Bình, Nam Định hiện nay còn đền thờ bà Trần Thị Dung- Linh từ Quốc mẫu của nhà Trần.

     

    Bà Trần Thị Dung là con gái ông Trần Lý ở thôn Liêu Gia, xã Lưu Xá, huyện Hưng Nhân (tỉnh Thái Bình ngày nay). Tháng 7 năm Kỷ Tỵ (1209), hoàng tử Sảm, con trai vua Lý Cao Tông (sau này trở thành vua Lý Huệ Tông) chạy loạn giặc Quách Bốc, về Hưng Nhân. Thấy Trần Thị Dung có nhan sắc, hoàng tử Sảm cưới làm vợ, mặc dù triều đình nhà Lý chưa đồng ý. Sau khi lấy hoàng tử nhà Lý, thế lực gia tộc Trần-Lý bắt đầu lớn mạnh. Họ tập hợp lực lượng, dẹp loạn và rước vua Lý Cao Tông về kinh đô, khôi phục chính sự cho nhà Lý. Sự kiện này là tiền đề để nhà Trần bước vào cung đình nhà Lý, mà Trần Thị Dung là nhịp cầu mở nghiệp nhà Trần. Ông Trần Lý được phong tước Minh tự. Cậu ruột là Tô Trung Từ được phong tước Điện tiền chỉ huy sứ.



    Tuy nhiên con đường mở nghiệp nhà Trần cũng nhiều gian nan, trắc trở. Do việc hoàng từ Sảm tự ý lấy Trần Thị Dung, cho nên khi đã khôi phục được chính sự, vua Lý Cao Tông cho đón hoàng tử Sảm về cung đình, mà không cho đón Trần Thị Dung. Dung còn bị đưa trở lại nhà bố đẻ. Đến tháng 10 năm Canh Ngọ, vua Lý Cao Tông chết (1210), Hoàng tử Sảm chính thức lên ngôi vua (Lý Huệ Tông 1211-1224). Vua Lý Huệ Tông cho đón vợ về cung. Lúc đó Trần Tự Khánh (anh trai Dung) lại ngăn trở, lấy lý do còn loạn lạc. Mãi sau Trần Thị Dung mới chính thức được đón về cung đình nhà Lý và được lập làm nguyên phi. Ba năm sau, Trần Thị Dung lại bị giáng xuống làm ngự nữ. Tháng 6 năm Bính Tý (1216) mới được đưa lên làm phu nhân Thuận chính. Và mãi tới tháng 12 năm Bính Tý, bà mới chính thức được phong làm hoàng hậu. Mấy năm trời, một mình bà Trần Thị Dung phải vật lộn với bao gian truân, trước sự lạnh nhạt và ngược đãi của Hoàng thái hậu nhà Lý, của đám quần thần nhà Lý. May thay, vua Lý Huệ Tông rất quý vợ, triều đình nhà Lý giáng bà xuống, vua Lý Huệ Tông lại phong bà lên, bảy năm trời bà Trần Thị Dung trải qua nhiều chức phận từ ngự nữ, nguyên phi, phu nhân Thuận chính rồi mới là Hoàng hậu.

    Lên ngôi hoàng hậu, lập tức cả hai người anh trai của bà: Trần Tự Khánh được phong chức Thái úy phụ chính; Trần Thừa (bố Trần Cảnh, người sau này trở thành ông vua đầu tiên của nhà Trần) được phong làm Nội thị phán thủ. Lúc này, vua Lý Huệ Tông bị trúng phong mắc chứng bệnh tâm thần, mọi công việc triều chính của nhà Lý đã trao cả vào tay Trần Tự Khánh. Việc chuyển giao quyền lực từ nhà Lý sang nhà Trần bắt đầu với việc xuất hiện Trần Thủ Độ (em họ Trần Thị Dung) trong cung đình nhà Lý. Nắm chức Điện tiền chỉ huy sứ, Trần Thủ Độ có quyền lực, ông cùng với hoàng hậu Trần Thị Dung thực hiện thành công sự kiện Lý Chiêu Hoàng (Vua Lý Huệ Tông truyền ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng), năm (1224). Ngày 25 tháng 10 năm ất Dậu (1225) Lý Chiêu Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh.

    Đánh giá sự kiện này, các sử gia đều cho rằng Trần Thủ Độ là người có công trong việc xếp đặt nhân sự, mà người cộng sự đắc lực và cực kỳ quan trọng là hoàng hậu Trần Thị Dung, mẹ đẻ của Lý Chiêu Hoàng, cô ruột của Trần Cảnh.

    Ngô Sĩ Liên đã nhận định: "Trời sinh ra Linh từ (Trần Thị Dung) cốt để mở nghiệp Trần". "Nói về phần giúp đỡ nội trị cho nhà Trần, thì Linh từ là người có nhiều công to".

    Với những chiến thắng oanh liệt của quân và dân ta trong kháng chiến chống Nguyên-Mông, dưới sự lãnh đạo của triều Trần, cùng với những thành tựu to lớn trong việc chấn hưng đất nước thời đại nhà Trần, rõ ràng bà Trần Thị Dung không những chỉ có công trong việc mở nghiệp nhà Trần mà còn có công lớn trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng nước Đại Việt hùng mạnh.

     


    nguồn: sưu tầm


    Nhắn tin cho tác giả
    Đoàn Thị Hồng Điệp @ 16:16 11/09/2009
    Số lượt xem: 1060
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến